Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC TÍCH HỢP CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG HỌC TẬP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về năng lực dạy học tích hợp Dạy học tích hợp là quan điểm dạy học hiện đại theo yêu cầu đổi mới giáo dục. Trong chương trình GDPT 2018, Bộ giáo dục đã nhấn mạnh tăng cường dạy học tích hợp đặc biệt ở cấp Tiểu học và THCS để HS tiếp cận được nhiều với kiến thức thực tế hơn và thấy rõ được kiến thức của các môn học có liên quan tới nhau trong việc vận dụng vào thực tế.
Tinh thần liên môn đã được đề cập vào phương pháp dạy học hiện đại song trên thực tế chưa được ấn định trong nội dung chương trình. Các nghiên cứu về phương pháp dạy học theo tích hợp liên môn mới chỉ dừng lại ở việc xắp xếp các phân môn đứng cạnh nhau mà chưa thấy rõ được mối liên hệ chặt chẽ, tích hợp với nhau về kiến thức và sự ứng dụng trong thực tế có mối quan hệ song song bổ trợ cho nhau. Từ những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, các vấn đề nghiên cứu về dạy học tích hợp mới được quan tâm với vai trò phát triển năng lực cho người học. Dưới góc nhìn của một nhà sư phạm, từ năm 2002, tác giả Nguyễn Văn Đường đã nghiên cứu về DHTH trong bài báo: “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc trung học cơ sở” [12].
Nội dung nghiên cứu viết về phương pháp và năng lực dạy học tích hợp trong ngữ văn, tích hợp nội môn trong Văn – Tiếng Việt – Làm văn về những chủ đề được đề cập tới trong bài học hoặc tích hợp liên môn giữa Lịch sử và Ngữ văn, Lịch sử và Địa lý trong việc tìm hiểu những kiến thức về hoàn cảnh lịch sử, các nhân vật trong văn học hay từ kiến thức Văn học có thể vận dụng để nhận biết về các địa danh hay khí hậu, tính cách con người vùng miền…. Những năm gần đây, khi xu thế hội nhập quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến giáo dục Việt Nam, nhiều công trình khoa học đã tập trung bàn về vấn đề DHTH và phân hóa. Bắt đầu với tích hợp đa môn ở bậc giáo dục Tiểu học thành 6 môn học mới: Tự nhiên và xã hội, sau đó là tích hợp nội môn với môn học Ngữ văn ở THCS và THPT. Đã có nhiều nghiên cứu về năng lực DHTH của một số các tác giả tham gia vào việc xây dựng chương trình GDPT 2018 như tác giả Đỗ Ngọc Thống viết về chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam, tác giả chỉ ra phương pháp phát triển năng lực người học là đổi mới mô hình giờ học theo hướng tích hợp để kích thích sự hứng thú của người học.
HS sẽ cảm thấy môn học không nhàm chán như trước kia chỉ đi vào nội dung bài học mà không có sự minh họa, ví dụ cụ thể mà thực tiễn đã chứng minh điều đó nếu phương pháp tích hợp được vận dụng như tích hợp môn Ngữ văn và Lịch sử hay Ngữ văn với Địa lý và Mỹ thuật…. để truyền đạt được cảm hứng học cũng như các kiến thức hiệu quả nhất của môn học [28]. Tác giả Hoàng Hòa Bình với công trình nghiên cứu Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 [3]. Công trình nghiên cứu cũng đề cập đến những ưu điểm và tầm quan trọng trong việc DHTH nói chung và dạy tích hợp trong Ngữ văn nói riêng.
Tác giả cũng chỉ ra rằng kiến thức trong môn học này thường trừu tượng, chính vì vậy cần có sự thay đổi và đổi mới trong phương pháp dạy để tạo hứng thú cho người học. Một trong những PP đổi mới đó chính là DHTH, tích hợp Ngữ văn với các môn học khác hay tích hợp Ngữ văn với hoạt động trải nghiệm. Đứng trên vị trí nhà quản lý giáo dục, tác giả Trương Đình Châu nhận định: “Tích hợp - một xu hướng dạy học có tính khoa học và thực tiễn” trong bài báo cùng tên công bố trên Internet. Tác giả Trần Bá Hoành – Viện khoa học giáo dục Việt Nam với nghiên cứu dạy học tích hợp trong nhà trường mang lại nhiều lợi ích trong công tác giáo dục.
Nghiên cứu tiếp theo về dạy học tích hợp và khả năng áp dụng vào thực tiễn Việt Nam của tác giả Vũ Thị Sơn trong Dạy và học ngày nay số 370, tr 21-25 (2009)… cho thấy những ưu điểm nổi bật trong DHTH, mang lại sự chủ động tìm hiểu và khai thác sâu rộng về kiến thức đối với HS, các giáo viên có thời gian nghiên cứu về phương pháp và kĩ thuật dạy học mới để áp dụng vào giảng dạy mà không mang tính chất nặng nề áp đặt [15]. Tác giả Nguyễn Hồng Liên, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam nhận định: 7 “Việc dạy tích hợp góp phần hình thành và phát triển kĩ năng quyết định, giao tiếp và làm việc nhóm. Nghiên cứu cho thấy việc dạy học nhằm phát huy khả năng sáng tạo, tương tác với học sinh một cách hiệu quả nhất vì vậy không chú trọng đến kiến thức mà đòi hỏi giáo viên cần có sự sáng tạo trong DHTH. Tác giả chỉ ra rằng việc DHTH là phương pháp giúp học sinh chủ động học tập sáng tạo và biết vận dụng kiến thức vào thực tế, biết sâu chuỗi các kiến thức liên môn học một cách toàn diện và hợp lý [20].
Nghiên cứu của hầu hết các tác giả cũng chỉ ra việc DHTH nhằm giảm tải về nội dung kiến thức trong bài học của từng phân môn và tăng thời gian và không gian cho các GV sáng tạo các PPDH hiện đại trong việc kết nối và tương tác với học sinh. Bên cạnh đó HS cũng phát huy được sự sáng tạo và chủ động nghiên cứu trong học tập. Việc DHTH không chú trọng vào nhiều kiến thức mà nhấn mạnh vào việc phát triển năng lực người học, hình thành kỹ năng tư duy cho HS, nhận biết được mối liên quan của các môn học có thể bổ trợ và vận dụng cho nhau vào thực tế trong cuộc sống hàng ngày. DHTH trong nhà trường giúp HS phát triển một cách toàn diện các kỹ năng thực tế mà không đi vào lan man, nặng nề lý thuyết.
Trên cơ sở đó kích thích được hứng thú người học, các môn học có thêm màu sắc mà không còn khô khan hay nhàm chán như trong suy nghĩ của HS [20]. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển khẳng định vai trò của việc dạy học tích hợp trong nhu cầu đổi mới hiện nay: “DHTH sẽ mang lại nhiều lợi ích giúp HS chủ động khám phá, tìm tòi kiến thức và thúc đẩy thái độ học tập tích cực. Thay đổi cách dạy này giúp GV hiểu về HS nhiều hơn, từ đó giúp các em lựa chọn được những điểm mạnh và khắc phục được điểm yếu của bản thân. Để đảm bảo cách dạy này cần bồi dưỡng về các chuyên đề DHTH và không đòi hỏi quá nhiều cơ sở vật chất và thiết bị dạy học”.
Với quan điểm chỉ đạo của Bộ giáo dục, chương trình GDPT 2018 định hướng tới sự tích hợp các môn học có liên quan tới nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết và làm sáng tỏ vấn đề nhờ sự kết hợp kiến thức liên môn đạt được mục tiêu hiệu quả. Có thể thấy hiệu quả giáo dục mà phương pháp DHTH mang lại. Các môn học chưa đựng những kiến thức khác nhau, nhưng khi vận dụng chúng trong thực tế 8 mới thấy mối liên hệ của tổng thể kiến thức, sự bổ trợ lẫn nhau giữa các môn học khiến người học chủ động sáng tạo và tìm hiểu các kiến thức sâu rộng cụ thể hơn mà không phải áp lực các lý thuyết trừu tượng. Dạy học tích hợp là giảm tải một số nội dung kiến thức dàn trải cho GV mà giúp GV chủ động tìm tòi các PP dạy học sáng tạo hướng dẫn HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng tư duy ứng dụng kiến thức trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Thông qua đó hình thành phẩm chất năng lực người học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục [25]. Nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên ở các trường phổ thông Các nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực DHTH cho GV ở các trường phổ thông đã có một số tác giả nghiên cứu như sau: Về bồi dưỡng năng lực DHTH, tác giả Nguyễn Vinh Hiển khẳng định: “Cần có kế hoạch cụ thể trong chương trình đào tạo bồi dưỡng giáo viên về DHTH. Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về số lượng và cơ cấu GV, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên đề DHTH. Cần nâng cao nhận thức cho GV và có chế độ động viên khích lệ các GV tự tìm tòi và phát triển năng lực DHTH.
Tuy không đòi hỏi tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất nhưng việc cung cấp các tư liệu và đạo cụ cần thiết trong việc DHTH cần phải được nhà trường chú trọng và quan tâm”. Theo tác giả Nghiêm Trọng Quý, để thực hiện hiệu quả chương trình DHTH, GV cần được bồi dưỡng về năng lực DHTH, việc bồi dưỡng có thể định kỳ, thường xuyên và có thể tự bồi dưỡng liên tục của các GV. Bên cạnh đó công tác bồi dưỡng cần kết hợp đào tạo giữa lý luận và thực tiễn, tạo ra một cộng đồng học tập và bồi dưỡng để các GV có thể trao đổi kinh nghiệm cũng như năng lực chuyên môn của mình. Việc tạo ra các giải pháp tối ưu cho công tác bồi dưỡng GV phải kể đến nghiên cứu của các tác giả như: Tác giả Nguyễn Minh Đường (1996) “Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới”, đề cập đến công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trong đó công tác chỉ đạo trong việc tập trung đào tạo cho các GV cốt cán là chủ đạo để từ đó có thể phát huy chương trình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng 9 cho toàn bộ GV trong nhà trường.