Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học theo định hƣớng giáo dục STEM cho GV THCS. Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học theo định hƣớng giáo dục STEM cho GV ở các trƣờng THCS huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học theo định hƣớng giáo dục STEM cho GV ở các trƣờng THCS huyện Hiệp Hòa, tỉnh Tỉnh Bắc Giang. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG GIÁO DỤC STEM CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về năng lực dạy học theo định hướng giáo dục STEM của giáo viên Trên cơ sở tiếp cận các nguồn tài liệu từ năm 2016 đến nay tác giả nhận thấy các nghiên cứu về bồi dƣỡng và quản lý bồi dƣỡng NLDH theo định hƣớng giáo dục STEM cho GV thể hiện ở các khía cạnh: Trong dự án thí điểm “Áp dụng phương pháp tiếp cận STEM của Anh vào bối cảnh Việt Nam năm 2016 - 2017” của hội đồng Anh tại Việt Nam và Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam đã nhắm tới 15 trƣờng THCS công lập, dân lập và trƣờng Trung học phổ thông tại năm tỉnh miền Bắc gồm Hà Nội, Hải Dƣơng, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh. Mục tiêu của dự án là: Xây dựng năng lực, áp dụng cách tiếp cận STEM cho GV và các lãnh đạo nhà trƣờng nhằm nâng cao thành tích học tập và năng lực thực hành của HS; Xây dựng sách giáo khoa, đổi mới sách giáo khoa và phƣơng pháp giảng dạy theo phƣơng pháp STEM và phát triển tài liệu học tập STEM;Thiết kế các hoạt động ngoại khóa STEM. Tài liệu tập huấn của dự án cung cấp thông tin cơ bản về quan điểm tiếp cận STEM, hệ thống năng lực STEM cần phát triển cho GV, gợi ý cách thức triển khai STEM trong nhà trƣờng cho lãnh đạo nhà trƣờng.
Luận án của Lê Xuân Quang (2017) với tên đề tài: “Dạy học môn Công nghệ phổ thông theo định hướng giáo dục STEM” [31] đã cụ thể hóa đƣợc các vấn đề sau: Cơ sở lý luận về giáo dục STEM trên các phƣơng diện sau: Đề xuất khái niệm, quy trình dạy học môn Công nghệ theo định hƣớng giáo dục STEM; Đề xuất phƣơng pháp luận xây dựng chủ đề giáo dục STEM trong dạy học môn Công nghệ; Xây dựng các tiêu chí về một chủ đề giáo dục STEM, cấu trúc của nhiệm vụ STEM; Đánh giá thực trạng dạy học môn Công nghệ phổ thông dƣới góc độ giáo dục STEM; Xây dựng 03 chủ đề minh họa dạy học môn Công nghệ 8 theo định hƣớng giáo dục STEM góp phần đổi mới giáo dục Công nghệ phổ thông theo 6 định hƣớng phát triển năng lực phù hợp với tƣ tƣởng tích hợp ở bậc THCS sau năm 2015 và định hƣớng giáo dục Công nghệ sau năm 2015. Nguyễn Quang Linh (2019) tiến hành tổ chức dạy học bài “tác dụng từ, tác dụng hóa học và tác dụng sinh lý của dòng điện” vật lý 7 theo định hƣớng giáo dục STEM. Tác giả đã nghiên cứu để đƣa yếu tố giáo dục STEM vào trong bài học mà không phá vỡ hình thức dạy học bài - lớp truyền thống. Hƣớng nghiên cứu này đƣợc trình bày tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Thái Nguyên (trang 33 đến trang 39).
Đây cũng là một hƣớng nghiên cứu tốt nhƣng chƣa triệt để về giáo dục STEM. Thực hiện tập huấn GV về giáo dục STEM ở phổ thông, năm 2019 Vụ giáo dục trung học [6] đã công bố tài liệu tập huấn “Xây dựng và thực hiện các chủ đề giáo dục STEM trong trƣờng trung học” theo chƣơng trình phát triển giáo dục trung học 2. Ngoài việc cung cấp những vấn đề chung về giáo dục STEM thì tài liệu tập huấn nhấn mạnh năng lực phân tích liên môn, xây dựng chủ đề STEM là năng lực quan trọng mà GV cần đƣợc bồi dƣỡng và tự bồi dƣỡng. Tài liệu còn cung cấp các chủ đề minh họa cụ thể là giáo án dạy học STEM đã đƣợc thực hiện ở một số trƣờng phổ thông.
Trong năm 2017 và 2018 nhóm các tác giả Nguyễn Thanh Nga, Phùng Việt Hải, Nguyễn Quang Linh, Hoàng Phƣớc Muội, Nguyễn Anh Dũng, Ngô Trọng Tuệ đã công bố tài liệu “Dạy học chủ đề STEM cho HS THCS và Trung học phổ thông” [27], “Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM cho HS THCS và trung học phổ thông” [26]. Thông qua tài liệu công bố dƣới dạng sách nhóm tác giả đã cung cấp cơ sở lí luận về dạy học STEM, tập trung xây dựng các chủ đề STEM trong trƣờng trung học. Từ đó, nhấn mạnh vai trò của GV và đề cập đến yêu cầu phát triển NLDH tích hợp cho GV. Nguyễn Văn Biên, Tƣởng Duy Hải (đồng chủ biên) cùng các tác giả Trần Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Chu Cẩm Thơ, Nguyễn Anh Thuấn, Đoàn Văn Đƣợc, Trần Bá Trình (2018) công bố tài liệu về “Giáo dục STEM trong nhà trƣờng phổ thông” [4].
Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học của giáo dục STEM; Quy trình xây dựng và tổ chức thực hiện giáo dục STEM ở trƣờng phổ thông; Giáo dục STEM trong môn học và hoạt động giáo dục cụ thể trong các môn Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Khoa học tự nhiên, Công nghệ; Minh họa một số chủ đề giáo dục STEM. Qua đó, các 7 tác giả cho rằng để tổ chức đƣợc giáo dục STEM trong nhà trƣờng, GV cần có nhận thức đúng về bản chất của giáo dục STEM, tính liên môn và yêu cầu hƣớng dẫn HS vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề cụ thể. Từ đó phát triển năng lực STEM cho HS. Bên cạnh đó, GV phải có năng lực phân tích, chẩn đoán nhu cầu, năng lực của HS và thực hiện dạy STEM theo quy trình đƣợc gợi ý.
Trong đó, nhấn mạnh giai đoạn HS trải nghiệm để đối chiếu, so sánh giữa lý thuyết với thực tiễn. Ngoài ra còn có một số công trình đăng trên tạp chí đề cập đến giáo dục STEM nhƣ: Nguyễn Đức Mậu, Đinh Thị Ngoan (2019) [24] Thiết kế chủ đề “Pin chanh” (chƣơng trình Hóa học vô cơ lớp 12) theo định hƣớng giáo dục STEM; Nguyễn Thanh Nga, Lê Thanh Trúc, Hoàng Phƣớc Muội (2019) về “Tổ chức dạy học một số kiến thức chƣơng “cơ sở của nhiệt động lực học” (vật lí lớp 10) theo định hƣớng giáo dục STEM đƣợc đăng trên tạp chí giáo dục số 445 (kì 1 tháng 1 năm 2019, trang 52 - 56); Nguyễn Đức Mậu, Dƣơng Thị Anh Tuyết (2018) [15] “Dạy học chủ đề Axit - bazo (Hóa học 11) theo định hƣớng giáo dục STEM” (dẫn theo [24]); Nguyễn Cẩm Thanh (2018) [22] “Mô hình MUSIC hoạt động trải nghiệm sáng tạo kĩ thuật theo tiếp cận STEM”… [37]. Những nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên THCS Ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu trƣớc đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về BD NLDH. Công trình của X.Abdullina… [56] đƣa ra cả một hệ thống lý luận và kinh nghiệm vững chắc trong lĩnh vực đào tạo và BD nghề nghiệp cho GV.
Ở các nƣớc phƣơng Tây, các công trình nghiên cứu của J.Skinner (1963)… lại đề cập cụ thể đến việc tổ chức huấn luyện các kỹ năng giảng dạy cho GV. Ở Đại học Stanford (Mỹ), nhóm “Phi Delta Kapkar” đã trình bày năm nhóm hoạt động kỹ thuật của ngƣời GV đứng lớp, có thể xem tƣơng ứng với năm bƣớc lên lớp và có thể dùng để đánh giá đối với GV [48]. Trong nghiên cứu của Hannele Niemi và Ritva Jakku-Sihvonen, các tác giả đã mô tả chi tiết và có những phân tích thuyết phục về những thay đổi quan trọng trong cấu trúc, nội dung chƣơng trình BDGV để nâng cao chất lƣợng giáo dục ở Phần Lan. Một số tác giả khác nhƣ: A.Mertler, Marzano lại đi sâu nghiên cứu và 8 đã đề xuất các biện pháp hình thành NLDH cho GV.
Tác giả Marzano đã đƣa ra một số định hƣớng nhƣ trong tiết học, GV phải biết sơ đồ hóa kiến thức, khắc sâu những kiến thức trọng tâm; thúc đẩy sự hợp tác của HS [51]. Chƣơng trình Nâng cao chất lượng đào tạo huấn luyện viên (trainers) và GV của mạng lƣới Chính sách Đào tạo GV châu Âu (ENTEP) đã nhận định ngƣời GV cần đƣợc trang bị những NL mới. Đó là khả năng sử dụng IT có hiệu quả; tăng cƣờng chuyên môn hóa và trách nhiệm cá nhân đối với phát triển chuyên môn (dẫn theo [16]). Báo cáo của ENTEP trong hội thảo tổ chức tại Brussels vào tháng 6/2005 đã thông qua bản đề cƣơng Những nguyên tắc chung về trình độ và năng lực GV ở Châu Âu, tập trung vào các nguyên tắc: GV phải đƣợc trang bị nền tảng nghề nghiệp tốt; GV là nghề nghiệp mang tính cơ động và phải đƣợc BD để tiếp tục phát triển chuyên môn [51].
Cùng với quan điểm này, ở bang Quebec (Canada), các nhà nghiên cứu đã trình bày bộ tiêu chuẩn NL GV; đặt ra vấn đề đổi mới quan niệm về đào tạo, BDGV; đề xuất thiết kế các chƣơng trình BDGV [47]. Ở Anh, Hoa Kỳ và Thái Lan CNN GV là cơ sở định hƣớng cho quá trình phát triển nghề nghiệp liên tục cho GV, đƣợc thể hiện rõ nhất trong thực tiễn (dẫn theo [51]). Có thể thấy, các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài đã đề cập nhiều đến nội dung BD với những yêu cầu cụ thể. Mục đích của các công trình đó là nhằm mục tiêu BD kiến thức chuyên môn, kiến thức khoa học, kĩ năng dạy học… để phát triển các NLDH cần thiết cho GV.
Theo Hannele Niemi và Ritva JakkuSihvonen [57], lí do cơ bản dẫn đến thành công của hệ thống GD Phần Lan (có thành tích cao nhất trong nhiều kỳ thi PISA) là do Phần Lan đã quyết định nâng chuẩn trình độ GV phổ thông lên trình độ thạc sĩ và mọi GV có nghĩa vụ và quyền hạn phải không ngừng học tập, phát triển chuyên môn. Công trình nghiên cứu về đào tạo GV tiểu học và trung học ở 6 quốc gia Đông Âu của y ban Văn hóa và Giáo dục thuộc Liên minh châu Âu cũng xác định trong công cuộc đổi mới GD, việc BDGV cần phải đƣợc chú trọng, phải có kế hoạch lâu dài cho công tác BDGV ở giai đoạn tiếp nối [54]. Luật nhà trƣờng của bang Brandenburg, Cộng hoà Liên bang Đức (dẫn theo [10]) quy định rõ GV phải có nghĩa vụ tham gia BD, thƣờng xuyên cập nhật kiến thức và đƣa vào những biện pháp đào tạo nâng cao NL chuyên môn. Chƣơng trình BDGV có ở ba cấp quản lý: Cấp nhà nƣớc, cấp địa phƣơng và chƣơng trình BD tại các nhà trƣờng.