Chương 1: TỔNG QUAN BÁO HIỆU HÀNG HẢI 1. LÝ THUYẾT VỀ BÁO HIỆU HÀNG HẢI. Các khái niệm, thuật ngữ về Báo hiệu hàng hải. - Tầm hiệu lực của báo hiệu hàng hải (Range) là khoảng cách lớn nhất tính từ người quan sát đến báo hiệu mà người quan sát nhận biết được báo hiệu đó để định hướng hoặc xác định vị trí của mình.
- Tầm hiệu lực ban ngày (Range for Daytime) của báo hiệu hàng hải là khoảng cách lớn nhất mà người quan sát có thể nhận biết được báo hiệu vào ban ngày; được xác định với tầm nhìn xa khí tượng (Meteorological Optical Range) bằng 10 hải lý(tương ứng với hệ số truyền quang của khí quyển T = 0,74). - Tầm hiệu lực ánh sáng (Luminous Range) của báo hiệu hàng hải là khoảng cách lớn nhất mà người quan sát có thể nhận biết được tín hiệu ánh sáng của báo hiệu. - Tầm hiệu lực danh định (Nominal Range) của báo hiệu hàng hải là tầm hiệu lực ánh sáng của báo hiệu trong điều kiện khí quyển có tầm nhìn xa khí tượng là 10 hải lý (tương ứng với hệ số truyền quang của khí quyển T = 0,74) với ngưỡng cảm ứng độ sáng của mắt người quan sát quy ước bằng 0,2 micro-lux. - Tầm nhìn địa lý (Geographical Range) của báo hiệu hàng hải là khoảng cách lớn nhất mà người quan sát có thể nhận biết được báo hiệu hay nguồn sáng từ báo hiệu trong điều kiện tầm nhìn xa lý tưởng.
- Hệ số truyền quang của khí quyển (Atmospheric Transmissivity) là hệ số biểu thị cường độ ánh sáng phát ra từ nguồn sáng còn lại sau khi truyền qua lớp khí quyển với khoảng cách một hải lý. Hệ số này được xác định theo từng vùng trên cơ sở theo dõi trong nhiều năm. - Báo hiệu nổi (Floating Aids) là loại báo hiệu hàng hải được thiết kế để nổi trên mặt nước, và được neo hoặc buộc ở một vị trí nào đó. - Ánh sáng chớp (Flashing light) là ánh sáng trong đó tổng thời gian sáng trong một chu kỳ ngắn hơn tổng thời gian tối và thời gian các chớp sáng bằng nhau.
- Ánh sáng chớp đều (Isophase flashing light) là ánh sáng chớp trong đó tất cả các khoảng thời gian sáng và thời gian tối bằng nhau. - Ánh sáng chớp dài (Long flashing light) là ánh sáng chớp trong đó thời gian chớp không nhỏ hơn 2,0s. - Ánh sáng chớp nhanh (Quick light) là ánh sáng chớp trong đó các chớp được lặp lại với tần suất từ 50 lần đến dưới 80 lần trong một phút. - Ánh sáng chớp rất nhanh (Very quick light) là ánh sáng chớp trong đó các chớp được lặp lại với tần suất từ 80 lần đến dưới 160 lần trong một phút.
9 - Ánh sáng chớp đơn (Single flashing light) là ánh sáng chớp trong đó một chớp được lặp lại đều đặn với tần suất ít hơn 50 lần trong một phút. - Ánh sáng chớp nhóm (Group flashing light) là ánh sáng chớp được phát theo nhóm với chu kỳ xác định. - Ánh sáng chớp nhóm hỗn hợp (Composite group flashing light) là ánh sáng chớp nhóm kết hợp các nhóm chớp khác nhau với chu kỳ xác định. - Đèn biển (Lighthouses) là báo hiệu hàng hải được thiết lập cố định tại các vị trí cần thiết ven bờ biển, trong vùng nước cảng biển và vùng biển Việt Nam.
- Đăng tiêu (Beacons) là báo hiệu hàng hải được thiết lập cố định tại các vị trí cần thiết để báo hiệu luồng hàng hải, báo hiệu chướng ngại vật nguy hiểm, bãi cạn hay báo hiệu một vị trí đặc biệt nào đó. - Chập tiêu (Leadinglines/Ranges) là báo hiệu hàng hải gồm hai đăng tiêu biệt lập nằm trên cùng một mặt phẳng thẳng đứng để tạo thành một hướng ngắm cố định. - Trục của chập tiêu là giao tuyến giữa mặt phẳng thẳng đứng đi qua chập tiêu với bề mặt trái đất. - Tiêu sau của chập tiêu là tiêu xa nhất dọc theo trục của chập tiêu, tính từ người quan sát ở trong vùng định hướng của chập tiêu.
- Tiêu trước của chập tiêu là tiêu gần nhất dọc theo trục của chập tiêu, tính từ người quan sát ở trong vùng định hướng của chập tiêu. - Vùng định hướng của chập tiêu là vùng nằm trên trục của chập tiêu mà tại đó người sử dụng nhận biết được hướng đi an toàn. - Góc đứng của tiêu là góc tạo bởi hướng từ mắt người quan sát đến đỉnh tiêu và mặt phẳng nằm ngang. - Góc ngang của tiêu là góc tạo bởi hướng từ mắt người quan sát đến tiêu và trục của chập tiêu trong mặt phẳng nằm ngang.
- Độ lệch bên của chập tiêu là khoảng cách lớn nhất theo đường vuông góc với trục của chập tiêu mà tàu có thể đi lệch nhưng không ra khỏi vùng định hướng của chập tiêu. - Báo hiệu dẫn luồng (Maritime Buoyage System hay còn gọi là Aids to Navigation for channel) là tên gọi chung của các báo hiệu hai bên luồng (Lateral marks), báo hiệu chuyển hướng luồng (Modified lateral marks hay Preferred channel marks), báo hiệu phương vị (Cadinal marks), báo hiệu chướng ngại vật biệt lập (Isolated danger marks), báo hiệu vùng nước an toàn (Safe water marks), báo hiệu chuyên dùng (Special marks), báo hiệu chướng ngại vật nguy hiểm mới phát hiện (Marking new danger marks). - Đèn hướng (Sector lights) là báo hiệu hàng hải được dùng để hướng dẫn giao thông qua luồng hàng hải hoặc vùng nước nông hay nguy hiểm. Đèn hướng hiển thị các chùm sáng theo phương ngang với các màu sắc khác nhau để cung cấp thông tin cho người đi biển.
10 - Báo hiệu tình trạng giao thông trên luồng (Port traffic signals) là báo hiệu hàng hải bao gồm các tín hiệu kiểm soát tình trạng giao thông trên luồng tàu. - Báo hiệu hàng hải nổi cỡ lớn (Major floating Aids) bao gồm tàu đèn, phao đèn và phao báo hiệu hàng hải kích thước lớn. - Báo hiệu hàng hải bổ trợ (Auxiliary Marks) là báo hiệu hàng hải được sử dụng trong trường hợp các báo hiệu hàng hải đã được quy định khác không mô tả hết nội dung cần cảnh báo. Báo hiệu hàng hải bổ trợ phải được cập nhật và công bố trên hải đồ và các ấn phẩm hàng hải khác.
- Báo hiệu hàng hải AIS là báo hiệu vô tuyến điện truyền phát thông tin an toàn hàng hải tới các trạm AIS được lắp đặt trên tàu, hoạt động trên các dải tần số VHF hàng hải. - Tiêu radar (Racon) là báo hiệu hàng hải để thu, phát tín hiệu vô tuyến điện trên các dải tần số của radar hàng hải. - Tầm hiệu lực danh định của báo hiệu âm thanh (Pn) là khoảng cách mà trong điều kiện thời tiết sương mù, người đi biển có thể nghe rõ được tín hiệu âm thanh của báo hiệu với xác suất 90%. - Tầm hiệu lực thường dùng của báo hiệu âm thanh (Pu) là khoảng cách mà trong điều kiện thời tiết sương mù, người đi biển có thể nghe rõ được tín hiệu âm thanh của báo hiệu với xác suất 50%.
Phân loại báo hiệu hàng hải: - Có nhiều cách phân loại báo hiệu hàng hải: theo hình thức bố trí (báo hiệu cố định, báo hiệu nổi), theo tác dụng,. - Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, báo hiệu hàng hải được phân loại như sau: Báo hiệu thị giác (Virtual Aids to Navigation) cung cấp thông tin báo hiệu bằng hình ảnh vào ban ngày, ánh sáng vào ban đêm. Báo hiệu thị giác bao gồm: đèn biển, đăng tiêu, chập tiêu, đèn hướng,., báo hiệu dẫn luồng (báo hiệu hai bên luồng, báo hiệu chuyển hướng luồng, báo hiệu phương vị, báo hiệu chướng ngại vật biệt lập, báo hiệu vùng nước an toàn, báo hiệu chuyên dùng, báo hiệu chướng ngại vật nguy hiểm mới phát hiện); Báo hiệu vô tuyến điện (Radar Aids to Navigation) cung cấp thông tin báo hiệu bằng tín hiệu vô tuyến điện. Báo hiệu vô tuyến điện bao gồm báo hiệu tiêu Radar (Radar transponder beacons - racons), báo hiệu hàng hải AIS (AIS Aids to Navigation) và các loại báo hiệu vô tuyến điện khác; Báo hiệu âm thanh (Audible signals) cung cấp thông tin báo hiệu bằng tín hiệu âm thanh.
Báo hiệu âm thanh bao gồm còi báo hiệu và các loại báo hiệu âm thanh khác. Các loại thông báo hàng hải. Thông báo hàng hải là văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành, công bố để cung cấp thông tin, chỉ dẫn cho người đi biển và tổ chức, cá nhân liên 11 quan nhằm bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Phân loại một số thông báo hàng hải.
- Thông báo hàng hải về hoạt động của báo hiệu hàng hải a) Thông báo hàng hải về thiết lập mới báo hiệu hàng hải: Các báo hiệu hàng hải thị giác, vô tuyến điện, âm thanh sau khi được thiết lập phải được công bố thông báo hàng hải về vị trí, tác dụng, đặc tính hoạt động của báo hiệu đó theo qui định; b) Thông báo hàng hải về thay đổi đặc tính hoạt động của báo hiệu hàng hải: Khi báo hiệu hàng hải được thay đổi đặc tính hoạt động so với đặc tính đã được thông báo thì phải công bố thông báo hàng hải về các thay đổi đó theo qui định; c) Thông báo hàng hải về tạm ngừng hoạt động của báo hiệu hàng hải: Khi báo hiệu hàng hải không còn khả năng hoạt động theo đúng đặc tính đã được thông báo thì phải công bố thông báo hàng hải về việc tạm ngừng hoạt động của báo hiệu hàng hải đó theo qui định; d) Thông báo hàng hải về phục hồi hoạt động của báo hiệu hàng hải: Sau khi đã sửa chữa xong sự cố của báo hiệu hàng hải thì phải công bố thông báo hàng hải về việc phục hồi hoạt động của báo hiệu hàng hải đó theo qui định; e) Thông báo hàng hải về chấm dứt hoạt động của báo hiệu hàng hải: Sau khi báo hiệu hàng hải không còn tác dụng, được thu hồi thì phải công bố thông báo hàng hải về việc chấm dứt hoạt động của báo hiệu hàng hải đó theo qui định.