Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM MỘT THÀNH VIÊN THUỐC LÁ THĂNG LONG 1. Công tác Quản lý An toàn vệ sinh lao động trên Thế giới Hiện nay ILO đã thông qua 189 công ước và 201 khuyến nghị và được chia thành 24 nhóm là: tự do hiệp hội, thương lượng tập thể, lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, bình đẳng về cơ hội và đối xử, tham vấn 3 bên, quản lý lao động, thanh tra lao động, chính sách việc làm, thúc đẩy việc làm, đào tạo nghề, đảm bảo việc làm, an toàn lao động, vệ sinh lao động, phúc lợi xã hội, tiền lương, giờ làm việc… Tính đến 6/2019, Chính phủ Việt Nam đã trình Quốc hội phê chuẩn 22 Công ước của ILO, trong lĩnh vực ATVSLĐ có Công ước 155 và Công ước 187. Ngoài ra một số Công ước liên quan đến lĩnh vực ngành nghề đặc thù trong đó nội dung ATVSLĐ được đề cập nhiều mà Việt Nam đã phê chuẩn: Công ước số 6 – Việc làm ban đêm của lao động trẻ (ngành công nghiệp); Công ước số 14 – Nghỉ hàng tuần (ngành công nghiệp); Công ước số 45 – Làm việc dưới hầm lò (phụ nữ); Công ước số 120 – Vệ sinh (Thương mại và Văn phòng); Công ước số 123 – Tuổi tối thiểu (công việc trong hầm lò); Công ước số 124 – Khám y tế đối với lao động trẻ (làm việc dưới hầm lò); Công ước về lao động ngành hàng hải; Công ước số 81 – Thanh tra lao động. Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động tại Nhật Hệ thống pháp luật về ATVSLĐ của Nhật bao gồm: Luật, dưới Luật là các pháp lệnh (tương đương quy chuẩn kỹ thuật quốc gia), dưới pháp lệnh là các hướng dẫn và quy chuẩn.
Hiện nay Nhật có 3 luật liên quan đến ATVSLĐ là: luật an toàn và sức khoẻ công nghiệp, luật tổ chức phòng chống tai nạn công nghiệp và luật đo đạc môi trường làm việc. Trên cơ sở đó, cơ quan an toàn và sức khoẻ Nhật 5 Bản soạn thảo 10 nhóm Pháp lệnh tương ứng và đó cũng là nhóm quy chuẩn an toàn sức khoẻ nghề nghiệp trong hệ thống các quy chuẩn. Dưới cùng là các hướng dẫn và một loạt các tiêu chuẩn ban hành. Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động tại Hàn Quốc Hệ thống văn bản ATVSLĐ tại Hàn Quốc đã tương đối hoàn thiện và được quy định một cách chặt chẽ, bao gồm các luật như luật an toàn và sức khoẻ công nghiệp, luật tiêu chuẩn lao động, song song dưới đó là các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn.
"Luật An toàn và sức khỏe công nghiệp" của Quốc hội Hàn Quốc. + Mục tiêu của Luật an toàn và sức khỏe công nghiệp là: Duy trì và thúc đẩy an toàn và sức khoẻ của người lao động thông qua việc phòng ngừa TNLĐ và BNN bằng cách xây dựng các tiêu chuẩn về an toàn và sức khoẻ lao động vàlàm rõ trách nhiệm cá nhân, tạo ra môi trường làm việc thoải mái. + Phạm vi áp dụng của Luật như sau: Luật này sẽ áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp hoặc nơi làm việc với điều kiện là Luật có thể không áp dụng toàn bộ hoặc một phần cho các doanh nghiệp theo quy định trong Sắc lệnh của Tổng thống có tính đến mức độ của có hại và mối nguy hiểm, loại hình và quy mô doanh nghiệp, vị trí của doanh nghiệp… Bộ máy quản lý nhà nước về ATVSLĐ như sau: Thành lập cơ quan an toàn Hàn Quốc trực thuộc chính phủ (KOSHA) có bộ máy từ trung ương tới địa phương. Cơ quan này được cấp một phần kinh phí từ trung ương và thu phí từ các hoạt động đào tạo, huấn luyện, kiểm định an toàn,…KOSHA có quyền thanh tra, kiểm tra và xử phạt đối với các hành vi vi phạm ATVSLĐ.
Các văn bản pháp luật như quy định, tiêu chuẩn ATVSLĐ cũng do KOSHA phụ trách nghiên cứu, ban hành. Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động tại Trung Quốc Trung Quốc hiện nay đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và các luật, các quy định và hệ thống pháp luật về ATVSLĐ đang nỗ lực để theo kịp về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. 6 Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một loạt các luật, quy định và các nghị định quy định về quyền của NLĐ và bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho NLĐ. "Luật An toàn Lao động của Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa" của Quốc hội Trung Quốc.
+ Mục tiêu của Luật: Luật được xây dựng nhằm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng ngừa và giảm thiểu TNLĐ, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản và thúc đẩy sự phát triển kinh tế. + Phạm vi áp dụng của Luật: Luật này điều chỉnh các nội dung về trong các đơn vị tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoạt động trên lãnh thổ của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Nếu trong các văn bản pháp luật của Nhà nước về phòng cháy chữa cháy, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và đường thuỷ có những quy định về khác thì phải áp dụng cả những quy định đó. Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động tại Singapore Luật an toàn và sức khoẻ tại nơi làm việc là công cụ pháp lý chính tác động đến công tác ATVSLĐ tại Singapore.
Luật này được áp dụng cho tất cả các vị trí làm việc và gắn trách nhiệm cụ thể cho các bên liên quan nhằm giảm thiểu rủi ro tận nguồn (đánh giá rủi ro, xác định trách nhiệm về phía công ty,…). Luật này ra đời không chỉ đơn giản là yêu cầu các bên tuân thủ các yêu cầu pháp lý mà cong khuyến khích các ngành công nghiệp đầu tư một cách tích cực trong việc xây dựng các tiêu chuẩn về an toàn trong lao động. Mặt khác luật cũng yêu cầu các bên liên quan có biện pháp “thực tiễn hợp lý” để đảm bảo sự an toàn và sức khoẻ cho những người làm việc trong những ngành có nguy cơ cao. Ngoài ra các điều khoản của luật cũng quy định rõ ràng về sự an toàn của một số máy hoặc thiết bị làm việc.
Ngoài ra 26 văn bản dưới luật cũng cung cấp các tiêu chuản cụ thể đối với những công việc rủi ro cao hơn mà những ngành này phải tuân thủ. Công tác Quản lý an toàn vệ sinh lao động tại Việt Nam 1. Khái quát Trong thời gian qua, công tác quản lý ATVSLĐ ở nước ta đã đạt được kết quả nhất định, điều này được thể hiện ở Nhà nước ta đang dần hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý công tác ATVSLĐ. Cụ thể là, ngày 25/6/2015 Quốc hội khóa 13 đã ban hành Luật An toàn, Vệ sinh lao động, nội dung Luật có viết: “đảm bảo an toàn vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý Nhà nước về an toàn vệ sinh lao động”.
Tiếp đến là các tài liệu hướng dẫn như nghị định, thông tư….thực hiện, đồng thời nêu ra yêu cầu tương ứng với đặc thù của mỗi ngành nghề. Công tác ATVSLĐ ở nước ta đã và áp dụng mô hình QLNN, cụ thể là: Nhà nước trực tiếp quản lý các Bộ, ngành (như Bộ LĐTBXH, Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Công thương…). Các Bộ quản lý các địa phương và các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất. Nguồn lực phục vụ cho công tác ATVSLĐ được cơ cấu từ chính quyền đến các nhà máy, xí nghiệp.
Hàng năm, thông thường vào tháng 5, Nhà nước có phát động Tháng hành động về ATVSLĐ, trong đó Trưởng ban chỉ đạo là Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Nội dung triển khai Tháng hành động ATVSLĐ là gồm có tuyên truyền và kiểm tra công tác ATVSLĐ, diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Thông tin ATVSLĐ được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến NLĐ, nhắc nhở thường xuyên người sử dụng lao động và NLĐ giúp cải thiện hiệu quả triển khai công tác ATVSLĐ. Sau khi Quốc hội ban hành Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH 13 và Chính phủ ban hành các nghị định 44, 39, 36,… đã tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm các quy định, biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh lao động trong quá trình lao động; khuyến khích người sử dụng lao động, người lao động tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống 8 quản lý tiên tiến, hiện đại và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường trong quá trình lao động; nhằm giảm thiểu các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại.
Ngày càng cải thiện điều kiện cho người lao động. Công tác ATVSLĐ tại các đơn vị được nâng cao rõ rệt được kể đến như: Hàng năm công tác huấn luyện ATVSLĐ được đưa vào kế hoạch hàng năm như huấn luyện lao động mới, huấn luyện định kỳ hàng năm. Tại các cơ quan, xí nghiệp nhà máy đã được tổ chức mạng lưới ATVSV và tuyên truyền thiết thực nhằm nâng cao vai trò, nghĩa vụ và quyền hạn của mạng lưới ATVSV từ đó trực tiếp truyền đạt những kiến thức tới người lao động trong quá trình lao động. NSDLĐ đã quan tâm chăm lo tới NLĐ như huấn luyện, tuyên truyền, trang cấp đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động cá nhân giảm nguy cơ tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc từ đó ngăn ngừa được tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
Sức khỏe NLĐ được chăm lo, cải thiện tốt giúp nâng cao đáng kể chất lượng và năng suất lao động so với trước đây. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động tại việt nam hiện nay đã góp phần giảm thiểu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bên cạnh đó còn giúp nâng cao năng suất như châm ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về công tác BHLĐ những năm 50 – 60 của thế kỷ 20: “Nhiều nơi thiếu giáo dục công nhân về kỷ luật lao động, về ý thức làm chủ và về BHLĐ, điều đó rất đáng tiếc. Chúng ta phải chú trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội. Chúng ta cần phải hết sức bảo vệ, không để xảy ra TNLĐ”.