phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Quản lý nhà nƣớc về VSATTP. Chƣơng 2: Thực trạng Quản lý nhà nƣớc về VSATTP. Chƣơng 3: Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về VSATTP trên địa bàn huyện Đại Lộc. 12 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1. K á n ệm quản lý n à nƣớ Để hiểu đƣợc khái niệm QLNNN về VSATTP, trƣớc hết cần tìm hiểu thế nào là quản lý. Theo cách tiếp cận thứ nhất: Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hƣớng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phƣơng pháp và công cụ thích hợp. Theo cách tiếp cận thứ hai: Quản lý còn đƣợc hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố: Đầu ra, đầu vào, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trƣờng và mục tiêu.
Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt, chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản phải giải quyết. Mặt khác, chúng ảnh hƣởng tới hiệu lực và hiệu quả của quản lý. Dựa vào khái niệm trên, có thể định nghĩa: Quản lý Nhà nƣớc là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nƣớc, đƣợc sử dụng quyền lực Nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc.
Quản lý nhà nƣớc, hiểu theo nghĩa rộng đƣợc thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nƣớc. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nƣớc là hoạt động chấp hành và điều hành đƣợc đặc trƣng bởi các yếu tố có tính tổ chức, đƣợc thực hiện trên cơ sở để thi hành pháp luật, đƣợc bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ 13 thống các cơ quan hành chính nhà nƣớc (hoặc một số tổ chức xã hội trong trƣờng hợp đƣợc giao nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc). Quản lý nhà nƣớc cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tƣợng bị quản lý. Khái n ệm quản lý n à nƣớ về Vệ s n n toàn t ự p ẩm Thực phẩm là những sản phẩm dùng cho việc ăn, uống của con ngƣời ở dạng nguyên liệu tƣơi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, các chất đƣợc sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm.
Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng nhƣ dƣợc phẩm. Vệ sinh an toàn thực phẩm Là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển, cũng nhƣ sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khoẻ ngƣời tiêu dùng. QLNN về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nƣớc thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nƣớc sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, kinh doanh và ngƣời tiêu dùng trên cả nƣớc nhằm định hƣớng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP. QLNN về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, các chiến lƣợc, kế hoạch có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức thực thi các văn bản gồm một số công việc cụ thể: Tổ chức giáo dục tuyên truyền, công tác thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý.
Tầm qu n trọng ủ quản lý Vệ s n n toàn t ự p ẩm Trong những năm gần đây vấn đề VSATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng, nhiều vụ NĐTP xảy ra liên tiếp, gây thiệt hại đến tính mạng con ngƣời và tiền của. Trƣớc những diễn biến đó thì vai trò của nhà nƣớc đặc biệt quan trọng. 14 Trƣớc hết, nhà nƣớc thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến VSATTP để hƣớng dẫn ngƣời tiêu dùng và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có định hƣớng để sản xuất thực phẩm sạch. Ngoài ra, thông qua các văn bản, chính sách nhà nƣớc cũng quy định rõ nhiệm vụ quản lý của từng bộ, ngành và các cấp để thay mặt nhà nƣớc quản lý chặt chẽ vấn đề VSATTP.
Thứ hai, thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các chƣơng trình kế hoạch có liên quan đến VSATTP nhà nƣớc sẽ trực tiếp quản lý vấn đề VSATTP. Nhà nƣớc đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát, kiểm tra cũng nhƣ công tác quản lý tại các địa điểm, các trung tâm diễn ra các hoạt động buôn bán, tiêu dùng thực phẩm. Kiểm soát về sản xuất, chế biến cũng nhƣ tiêu dùng của tất cả các mặt hàng thực phẩm. Thứ ba, nhà nƣớc sử dụng công cụ pháp luật cũng nhƣ đội ngũ thanh tra, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp để quản lý vấn đề VSATTP.
Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanh tra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn VSATTP của nhà nƣớc. Đồng thời các bộ, ban, ngành có liên quan phối hợp với Bộ Y Tế để cùng quản lý các vấn đề liên quan đến thực phẩm và VSATTP. Thứ tƣ, nhà nƣớc tổ chức, tuyên truyền giáo dục về VSATTP cho nhân dân để nâng cao ý thức và hiểu biết về vấn đề này. Tổ chức các tháng hành động về VSATTP để đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền giáo dục đạt hiệu quả.
Nhƣ vậy, nhà nƣớc có vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề VSATTP. Nhà nƣớc đóng vai trò quyết định trong mọi lĩnh vực có liên quan đến thực phẩm, từ khâu sản xuất, chế biến, đến tiêu dung. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1. B n àn và tr ển á quy địn về quản lý Vệ s n n toàn t ự p ẩm Nhà nƣớc hoạch định chính sách về VSATTP thông qua việc ban hành văn bản.
Việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về quản lý VSATTP sẽ tạo ra môi trƣờng pháp luật thuận lợi cho hoạt động của các cơ quan QLNN về VSATTP, các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm và cả ngƣời tiêu dùng. Đồng thời cũng giúp làm giảm sự rủi ro, các yếu tố gây hại đến sức khỏe của ngƣời tiêu dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm, bảo đảm sự cạnh tranh công bằng của các cơ sở sản xuất, kinh doanh với nhau. Nhà nƣớc thu thập dữ liệu, kết quả về VSATTP trên cả nƣớc, sau đó phân tích, nghiên cứu tiến hành xây dựng các chính sách phù hợp. Trong quá trình làm, có sự tham gia của các cơ quan ban ngành, sự bàn bạc kỹ lƣỡng để đƣa ra chính sách dự thảo tốt nhât về VSATTP.
Sau đó tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện những chính sách dự thảo đó để ban hành chính sách về VSATTP đến khắp các tổ chức, cá nhân trong cả nƣớc. Đối tƣợng chủ yếu của chính sách này hƣớng tới đó là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm, cũng nhƣ nâng cao ý thức cho ngƣời tiêu dùng. Phải đảm bảo các nội dung sau: - Tính thống nhất: Tăng cƣờng quyền quản lý tập trung thống nhất của trung ƣơng, kết hợp chặt chẽ việc phân công, phân cấp hợp lý và quy định phối hợp chặt chẽ để tăng cƣờng QLNN về VSATTP. Các văn bản quản lý liên quan đến VSATTP không đƣợc mâu thuẫn với nhau.
Cần đƣợc rà soát văn bản thƣờng xuyên nhằm chỉnh sửa bổ sung phù hợp với thực tế và thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế đất nƣớc trong các giai đoạn. 16 - Yêu cầu tính minh bạch của các văn bản quản lý: Tất cả văn bản điều chỉnh về hàng thực phẩm tới các đối tƣợng liên quan đều đƣợc công bố rộng rãi. Thông qua các tuyên truyền, vận động thì các văn bản này đƣợc truyền tải một cách chi tiết, cụ thể tới các đối tƣợng chịu trách nhiệm liên quan đến các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh, ngƣời tiêu dùng thực phẩm và các cơ quan QLNN có liên quan. Điều này đảm bảo trong quá trình thực hiện sẽ mang tính hiệu quả cao, hạn chế các vi phạm gây thiệt hại cho xã hội.
- Yêu cầu tính rõ ràng: Các văn bản quản lý nhà nƣớc về VSATTP đƣợc quy định cụ thể, dễ hiểu, không mâu thuẫn với nhau. Các điều kiện quy định xuất phát từ thực tế giảm thiểu thiệt hại ngƣời và của trong quá trình thực hiện, giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm. - Tính phổ thông, đại chúng: Các quy định nằm trong các văn bản quản lý khác nhau nhƣng đƣợc liên hệ chặt chẽ với nhau, tránh tình trạng tạo ra các khe hở lớn tạo điều kiện cho các hình thức kinh doanh gian lận. Các văn bản phải có hệ thống theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tránh tình trạnh lách luật của các doanh nghiệp, cá nhân.
Mặt khác, tính đồng bộ của các văn bản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện đúng và đủ các quy định về VSATTP. Các quy định của QLNN về VSATTP đƣợc cụ thể hóa trong các văn bản. Sau đó là quá trình triển khai các văn bản này đến các đối tƣợng quản lý: các cơ sở sản xuất, kinh doanh và đối tƣợng ngƣời tiêu dùng để tự bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của bản thân mình.2 Tổ ứ bộ máy quản lý n à nƣớ về vệ s n n toàn t ự p ẩm Bộ máy quản lý nhà nƣớc về VSATTP đến nay đã đƣợc xây dựng hoàn chỉnh từ Trung ƣơng đến địa phƣơng. Có đầy đủ các Bộ ngành quản lý các 17 nhóm sản phẩm riêng.
Mỗi ngành đều có các cơ quan cấp dƣới phụ trách quản lý VSATTP của từng ngành. Mỗi ngành bố trí nguồn lực cho bộ máy quản lý nhà nƣớc về VSATTP đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Hiện nay việc bố trí đủ nhân lực quản lý ATTP là việc làm cần thiết mà các địa phƣơng đang tiến hành để đáp ứng với yêu cầu quản lý VSATTP.