Chương Ill: Những cơ hội, thách thức và triển vọng của quan hệ thương mại Việt Nam — Trung Quoc. PHAN NỘI DUNG CHUONG I: TONG QUAN VE VIET NAM, TRUNG QUOC VA QUAN HE THUONG MẠI VIET- TRUNG TRƯỚC NAM 2001.1 Téng quan về Việt Nam và Trung Quốc.11 Tổng quan về Trung Quốc. Trung Quốc là một quốc gia có số dân khoảng hon 1,3 tỷ và có diện tích 9,6 triệu KmỶ, có độ dài bờ biển là 14.500 km (giáp biển Đông Trung Hoa, vịnh Triều Tiên, Hoàng Hải, biển Nam Trung Hoa), đường biên giới đất liên 22. Gần 30 năm thực hiện cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn và hiện nay Trung Quốc trở thành đất nước có nền kinh tế lớn thứ 4 trên thé giới.
Từ năm 1979 - 2006, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Trung Quốc đạt mức trên 9,6%/ năm ( mức tăng trưởng cao nhất thé giới). Tính riêng năm 2006, GDP Trung Quốc đạt 20.940 tỷ NDT (khoảng 2. Và năm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc lên tới 10,3%, Trung Quốc đã vượt Nhật lên đứng thứ 2 trong nên kinh tế thế giới. Dưới đây là bảng thứ bậc của kinh tế Trung Quốc có sự nhảy vọt trong vòng 6 năm qua: 2000 01 62 03 04 05 06 07 08 09 2010 Mỹ Mỹ ——— Trung Quốc Ash Ì Kinh tế Trung Quốc chính thức trở thành số hai trên thé giới, www tin247 com.
14/02/11 | 9 Page Về quan hệ đối ngoại, Trung Quốc khang định sẽ tiếp tục đi theo con đường phát triển hòa bình, kiên trì mở cửa đổi ngoại, sẵn sàng hợp tác cùng có lợi với các nước trên thẻ giới, hết sức coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng theo phương châm “mục lân, an lân, phú lân” (thân thiện với láng giéng, ôn định với láng giéng va cùng làm giàu với láng giéng). Trung Quốc là một thị trường đầu tư to lớn, thu hút một số lượng lớn các công ty, tập đoàn đầu tư nước ngoài với các hình thức kinh doanh đa dạng nhưng cũng là nơi cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp nội địa với các hãng nước ngoài. Cũng cần lưu ý rằng Trung Quốc là một thị trưởng rộng lớn nhưng tốc 46 phát triển kinh tế giữa các vùng chênh lệch nhau rat rd. Trong khi miền duyên hải phát triển như Thâm Quyến ( thu nhập bình quân đầu người trên 20.000 USD/năm) thi dân cư các vùng miễn Tay Trung Quốc có mức thu nhập bình quân đầu người chi đạt khoảng 300 USD/ nim’.12 Tong quan về Việt Nam.
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam châu Á. Lãnh thé Việt Nam chạy doc bờ biển phía đông của ban dao này. Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1.130 km) và Campuchia (1.228 km) và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, biển Đông và vịnh Thái Lan. Việt Nam có diện tích 331.212 km2, bao gồm khoảng 327.480 km? đất liên và hơn 4.200 km? biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường Sa và Hoang Sa ma Việt Nam tuyên bố chủ quyển, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế va them lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên | triệu km?.
Vẻ tai nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên va nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, măng gan, bô xit, chrômát,. Vẻ tải nguyên biển có dau mỏ, khí tự nhiên, quặng khoáng sản ngoài khơi. Với hệ thống sông dốc ? Bộ Công thương Trung tâm thông tin công nghiệp va thương mai, Thương mại Việt Nam — Trung 1-5. NXB Lao Động, Hà Nội, 200tr8, | 10 Page đỗ từ các cao nguyên phía tây, Việt Nam có nhiều tiểm năng về phát triển thủy điện.
Trung Quốc và Việt Nam có chung biên giới đường bộ dài khoảng 1.353 Km với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây ( Trung Quốc) tiếp giáp với 7 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Nằm ở vị trí cầu nối giữa Trung Quốc với ASEAN trên các tuyến đường xuyên A, hành lang Đông — Tây, cũng như trong khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng MêKông mở rộng, Việt Nam là cửa ngõ để Trung Quốc thâm nhập vào ASEAN, là cầu nói giữa Trung Quốc va ASEAN trong Khu Mậu dich tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA). Đây thực sự là thế mạnh của Việt Nam trong việc phát triển quan hệ thương mại với Trung Quốc. Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nên kinh tế tập trung tương tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập mô hình kinh tế mà Việt Nam gọi là "Kinh tế thị trường định hướng XHCN". Các thành phân kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nha nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hang năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt là sau khi Hoa Ky đỡ bỏ cắm vận với Việt Nam năm 1994. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997, đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, va tăng lên đến 4,8% năm 1999.
Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ. Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nên kinh tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tang cần thiết dé đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khâu có tính cạnh tranh hơn. Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn trải nghiệm những thách thức quan trọng nhất của cơ chế thị trường và toan cầu hóa. Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006, độ mở của nền kinh tế đã tăng vọt từ mức 100% lên 150% chỉ trong vòng hai năm, luồng vốn gián tiếp và trực tiếp chảy vào mạnh chưa từng có.
Cơ chế thị trường được đòi hỏi phải áp dụng toàn diện hơn va sâu sắc hơn trong đời song kinh tế và sản xuất Page| 11 nhằm tuân thủ các điều kiện của WTO. Những thay đổi nảy trước đó vẫn được mong chờ như một cơn giỏ mát, nhưng thực tế lại giếng như một cơn gió lạnh đột ngột thôi tới nhiều hơn, khiến nên kinh tế rơi vào tình trạng “cam lạnh” từ quý 3-2007, mà dấu hiệu lả lần đầu tiên sau nhiều nam, lạm phát vượt mức 1% một tháng. Giới chính sách tỏ ra thực sự lung túng trước hoàn cảnh mới. Một điều không may mắn nừa là cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu lan ra toàn cầu và tràn tới Viêt Nam vào quý 3- 2008, đã làm cho tình hình trở nên tôi tệ hơn.
Tuy nhiên, những dấu hiệu phục hồi đã xuất hiện vào cuối năm 2009; theo dự báo của các tô chức nghiên cứu lớn thì khu vực Đông A đang lấy lại da tăng trưởng mạnh mẽ hơn cả va nén kinh tế Việt Nam cũng có dấu hiệu đang phục hỏi.” Năm 2010, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toản cầu. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Ước tính GDP cả năm 2010 có thể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%). Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công.
Với kết quả nay tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006- 2010 đạt bình quân 7%/năm và thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 1. Hình 1: Tăng trưởng GDP theo quý giai đoạn 2008-2010 ——===ẽ=ẽễ-- “Nguôu Tổng cúc Thông Rẻ (Ý Lóc nid ° Nguyễn Đức Thanh, Dinh Tuấn Minh, Kinh té Việt Nam trong bối cảnh kình tế thể giới hiện nay - một số phan tích và khuyến nghị chính sách, htup:/!www,hocvienngoaigiao. Page| 12 Các chỉ số tăng trưởng cho các ngành cũng thẻ hiện một xu hướng phục hồi rõ rệt. Công nghiệp tiếp tục là đầu tàu của tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2010 tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2009 và năm 2010 ước tăng 14% so với năm 2009. So với khu vực công nghiệp thì khu vực dịch vụ cũng có sự phục hỏi sau khủng hoảng kinh tế thế giới những ở mức độ thấp hơn. Tốc độ tăng trưởng trong 9 thang đầu năm 2010 là 7,24% và triển vọng tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ cả năm 2010 có thé đạt 7,5%. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, năm 2010 gặp nhiều khó khăn: đầu năm hạn hán nghiêm trọng, giữa năm nắng nóng gay gắt, cuối năm mưa lũ lớn kéo dai ở miền Trung và Tây Nguyên.
Những khó khăn này đã gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất vụ mùa, nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi. Tuy nhiên, do thực hiện nhiều chính sách và giải pháp hỗ trợ hộ nông dân và các doanh nghiệp về vốn, vật tư, tiêu thụ kịp thời, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 thang dau năm đã tăng 2,89% so với cùng ky năm 2009, và ước cả năm 2010 tăng khoảng 2,8%. Xuất nhập khâu của Việt Nam năm 2010 có nhịp độ tăng trưởng đáng khích lệ trong bối cảnh kinh tế của những nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU. vẫn phục hồi chậm chạp.
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 ước đạt khoảng 70,8 tỷ USD, tăng 24,9% so với năm 2009, Xuất khẩu tăng là do sự đóng góp lớn của những mặt hàng công nghiệp chế biến cộng với sự phục hồi của kinh tế thế giới làm cho xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản được lợi về giá. Vấn đề tồn tại lớn nhất của xuất khâu đã bộc lộ trong nhiều năm qua là việc vẫn phụ thuộc nhiều vao các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuy, hải sản, dét may, da giầy. Hơn nữa, các mặt hàng công nghiệp chế Bang 1: Xuất nhập khẩu gai đoạn 2006-2010 (tý USD) Xuất khau Can can thương meu Nguồn Tong các Thong kè và Bao cáo của BS công trong Page| 13 biến vẫn mang tính chất gia công.