mở đầu những kỳ thăng trầm trong quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc. Quan hệ giữa Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Hoa Kỳ là một trong những mối quan hệ quốc tế cực kỳ phức tạp. Trong thời gian Chiến tranh lạnh, quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc luôn luôn thay đổi và sau Chiến tranh lạnh quan hệ đó vẫn chưa thể gọi la ổn định. Hơn hai mươi năm đối địch (1949- 1971).
Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc Liên Xô và các nước đổng minh Hoa Kỳ, Anh, Pháp th4ng tran, Nhật .Đức, Italia bai trận và bị thiệt hại nặng nỀ. Trong các nước tham chiến thì Hoa Kỳ là nước không những không bị thất bại mà lại thu được nhiều lợi nhuận nhất, nhờ chiến tranh Hoa Kỳ giàu lên nhanh chóng trở thành siêu cường thế giới. Tháng 3/1947 học thuyết Tơruman ra đời và công khai phát động cuộc chiến tranh chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm giành vai trò lãnh đạo độc tôn trên thế giới. Từ đây quan hệ giữa liên minh Liên Xô — Hoa Kỳ và quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước được thiệt lập trước chiến tranh thế giới thứ hai bị phá vỡ, bao trùm lên tất cả là cuộc chiến tranh lạnh.
Năm 1949 nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời đó là kết quả của cuộc cách mang dan tộc dan chủ ở Trung Quốc. Cách mang thànnh công chính quyền Tưởng Giới Thạch chạy sang Đài Loan, khiến Đài Loan trở thành khu vực lưu tâm và đặt nhiều tham vọng của Hoa Kỳ làm tăng thêm sự đối lập vốn có về quyền lợi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc ở nơi này cũng như trong toàn bộ chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ. Trong chiến lược toàn cầu của mình thì Hoa Kỳ luôn xem Châu Âu là khu vực trọng điểm vì Châu Âu là nơi tập trung của hai hệ thống thế giới đối lập nhau về chính trị một bên là khối quân sy Bắc Đại Tây Dương và một bên là hệ thống XHCN và khối quân sự Vacsava và vì châu Âu là nơi Mỹ cho là CO pangs Bài Khóa Luận GVHD: Thay Lé Phung Hoang nơi có trình độ khoa học kỹ thuật, tiểm năng kinh tế hơn hẳn các vùng khác. Tuy niên viéc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới được mở rộng, đó cũng là một nguy cơ cho Mỹ.
Đài Loan khu vực mà Hoa Kỳ đặt nhiều tham vọng làm tăng thêm sự đối lập vẻ quyền lợi kinh tế giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Tuy nhiên việc CHND Trung Hoa ra đời phát triển theo con đường CNXH làm cho hệ thống CNXH trên thế giới được mở rộng đó cũng là một nguy cơ, một nút thất ma Hoa Kỳ phải lưu tâm. Hơn thế nữa Trung Quốc có vị trí chiến lược quan trọng nằm ở khu vực Chau A - Thái Bình Dương, một thị trường rộng lớn có tam quan trọng và lợi ích lớn đối với nền kinh tế Hoa Kỳ. Vì thế Hoa Kỳ coi khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là ví trí thứ hai có tầm chiến lược quan trọng trong trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ.
Sau châu Âu việc Hoa Kỳ quan tâm đến Trung Quốc là lẽ đương nhiên. song đây chưa phải là thời kỳ thích hợp để Mỹ thực hiện ý 46 chiến lược của mình đối với Trung Quốc. Suốt những năm Chiến tranh lạnh, quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc luôn luôn thay đổi và sau Chiến tranh lạnh quan hệ đó vẫn chưa thể gọi là ổn định. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Hoa Kỳ — Liên Xô coi nhau là đối thủ chính nhưng chưa bau giờ trực tiếp đánh nhau.
Trái lại CHND Trung Hoa mới ra đời chưa được một năm thì đã phải tham gia vào cuộc chiến tranh với quân đội Hoa Kỳ trên bán đảo Triéu Tiên. Ngày 25/6/1950 chiến tranh Triểu Tiên bùng nổ, ngày 15/9/1950 quân Hoa Kỳ kéo cờ Lién hợp quốc lên Nhân Xuyên, can thiệp vào chiến tranh Triểu Tiên, quân Hoa Kỳ còn oanh tạc một số thị trấn và làng mạc của Trung Quốc tại vùng Đông Bắc. Hai ngày sau biến cổ 25/6/1950 Truman ra lệnh cho ham đội 7 vào biển ngăn cách giữa Đài Loan và Hoa Lục, nhằm ngăn chặn một cuộc xung đột có thể xảy ra giữa Trung Quốc và Đài Loan, chính sách này được coi là “trung lập hóa Dai Trang :12 Bài Khóa Luận GVHD: Thay Lê Phụng Hoàng Loan”. Không day hai tháng sau Hoa Kỳ đã chuyển cho Truman thiết lập quan hệ với Đài Loan và chuyển cho chính phủ Quốc dân dang những khoản viện trợ quan sự và viện trợ kinh tế.
Những diễn biến trên đây cho thấy Hoa Kỳ đã đặt Triểu Tiên và Đài Loan vào phòng tuyến tiền tiêu của mình ở Viễn Đông và áp đặt lệnh cấm vận đối với Trung Quốc. Ngày 25/10/1950 quân chí nguyện của nhân dân Trung Quốc, dưới sự chỉ huy của tướng Banh Đức Hoài đã vượt sông Ấp Luc tiên vào lãnh thổ Triểu Tiên. Khi chiến tranh Triểu Tiên bùng nổ. Từ ngày 23/1 1/1950 quân đội Trung Quốc bắt đầu tham chiến để giúp đỡ Triều Tiên chống Hoa Kỳ, làm cho sức chiến đấu của Triéu Tiên mạnh lên rõ rét.
Việc Trung Quốc công khai giúp Triểu Tiên chống lại Hoa Kỳ đã làm cho quan hệ Trung - Xô gắn bó hon, ngược lại lam cho quan hệ Hoa Kỳ — Trung Quốc càng thêm căng thang. Chiến tranh Triều Tiên và sự can dv trực tiếp của Trung Quốc đã làm cho mục tiêu chính của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc là tạo sự chia rẽ giữa Bac Kinh và Moskva khó có thể đạt được. Tuy nhiên chính phủ Truman vẫn cố gắng kiểm chế không để chiến tranh Triều Tiên lan rộng thành một cuộc xung đột trực tiếp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Bên cạnh đó Hoa Kỳ bắt đầu thay đổi chính sách đối với vùng Đông A theo hướng ngăn chặn Bắc Kinh mở rộng hơn nữa ảnh hưởng trong vùng.
Tuy nhiên lúc này các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tính tới việc thiết lập quan hệ với Hoa Ky. Mặc đù lúc đó Hoa Kỳ chưa chính thức công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là thành viên thường trực của hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. nhưng đại biểu của Trung Quốc theo sự chỉ đạo của thủ thướng Chu Ân Lai đã gặp đối tác của Hoa Kỳ lin đầu tiên vào ngày 5/6/1954. Các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ở cấp Đại sứ bắt đầu từ ngày 1/8/1955 kéo dài đến đầu thập niên 70, các cuộc đàm phán thoạt trông có vẻ như không giúp gì nhiều vào việc cải thiện quan hệ giữa hai nước vì sau ngắn ấy năm đàm phán hai bên chỉ ký được một hòa ước duy nhất liên quan đến việc hồi hương của công dân hai nước.
Trang : 13 Bài Khóa Luận GVHD: Thay Lê Phụng Hoang Nhưng chúng vẫn rất can vì hai bên biết rõ hậu ý của đối phương va do đó tránh được những hiểu lầm tai hại nhất là vào những thời điểm căng thẳng. Khi Trung Quốc vừa giành được được độc lập đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến lược của Trung Quốc là dựa hẳn vào Liên Xô để nhanh chóng xây dựng và phát triển nền kinh tế và cũng cố nền quốc phòng vững mạnh. Mối quan hệ đó được thể hiện trong việc ký kết "hiệp ước đồng minh tương trợ Trung - Xô” (2/1950). Với chiến lược đối ngoại dựa vào Liên Xô, chống Hoa Kỳ trong những năm 50, Trung Quốc đã tranh thủ tối đa sự viện trợ của Liên Xô để phát triển kinh tế và quốc phòng.
Cùng với mối quan hệ thân thiện với Liên Xô, Trung Quốc còn quan tâm tới việc thiết lập mối quan hệ láng giểng hữu nghị với các nước Nam Á, Đông Nam Á nhằm mục đích xây dựng vành đai an ninh xung quanh mình, tạo đưng môi trường hòa bình để tăng cường tiểm lực và kiến thiết đất nước. Ngày 4 và 5/6/1954 cuộc gặp gỡ do phía Mỹ tổ chức, Hoa Kỳ khẳng định ý muốn làm mọi việc để các công dân Hoa Kỳ bị giam giữ ở Trung Quốc được thả. Ngày 10/6/1954 trong cuộc gặp do phía Trung Quốc tổ chức, Trung Quốc tuyên bố sẩn sang thảo luận về vấn để kiểu dân của hai nước. Ngày 15/6/1954 là cuộc gặp gỡ lan thứ ba Trung Quốc chấp nhận cho kiểu dân Hoa Kỳ ở Trung Quốc được phép liên hệ với gia đình thông qua hội chữ thập đỏ Trung Quốc làm trung gian.
Ngày 26/6/1954 Trung Quốc để nghị cho kiểu dân hai nước về nước của họ thông qua một nước thứ ba có quan hệ ngoại giao với Hoa kỳ và Trung Quốc nhưng Hoa Kỳ từ chối. Những cuộc gặp gỡ như vậy còn kéo dai cho đến năm 1971, nhưng có thể coi đó là những cuộc đối thoại không đem lại kết quả như mong muốn của hai bền. Thái độ của Hoa Kỳ và Trung Quốc trong giai đoạn này đã làm cho quan hệ giữa hai nước không thoát ra khỏi những bế tắc. Hoa Kỳ tuyên bố : “.chắc chấn chúng Trang : 14 Bài Khóa Luận GVHD: Thây Lê Phụng Hoàng ta không có nghĩa vụ bảo vệ một nước đã chiến đấu chống chúng ta ở Triều Tiên ".' Để cô lập và gây khó khăn cho Trung Quốc Hoa Kỳ đã thực hiện chính sách cấm vận đối với Trung Quốc cấm luôn cả việc người Hoa Kỳ sang Trung Quốc đi du lịch.
Thêm nữa tháng 12/1954 Hoa Kỳ còn ký hiệp ước phòng thủ chung với Đài Loan, một tháng sau ngày 21/1/1955, Thượng viện và Hạ viện Mỹ thông qua “nghị quyết về Đài Loan”. Việc làm này chứng tỏ Hoa Kỳ vẫn quyết tâm bảo vệ và lôi kéo Đài Loan chống lại Trung Quốc, đây là một thách thức lớn của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc. Về phía Trung Quốc, mặc dd có thái độ chống lại Hoa Kỳ, nhưng không có ý định từ bỏ Đài Loan, nên vẫn có những tín hiệu muốn làm giảm căng thẳng trong quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc. Diéu này được thể hiện qua tuyên bố của thủ tướng Chu An Lai tại hội nghị Băngđung ngày 23/4/1955, rằng chính phủ Trung Quốc sẵn sàng thương lượng với chính phủ Hoa Kỳ để thảo luận việc làm dịu tình hình căng thẳng ở khu vực Viễn Đông đặc biệt là khu vực Đài Loan.
Tuy nhiên thời kỳ này chưa có bước tiến nào trong việc cải thiện quan hệ giữa Hoa Kỳ — Trung Quốc. Từ thập niên 50 Hoa Kỳ và Liên Xô ngày càng thấy rõ gánh nặng của việc chạy dua vũ trang và hậu quả của nó đối với tình hình thế giới cũng như tình hình rong nước.