Chương 1 QUAN DIEM CUA C.MÁC VE PHÁT TRIEN CON NGƯỜI 1. Quan niệm duy vật của C.Mac về con người với tư cách cơ sở nền tảng để xây dựng quan điểm về phát triển con người 1. Quan niệm của C.Mác về con người và bản chất con người Lịch sử phát triển của loài người, theo quan điểm của C.Mác, là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác tiến bộ hơn do sự vận động của xã hội. Trong đó, con người với tư cách là chủ thể của xã hội đóng vai trò quyết định và là động lực thúc đây sự vận động, phát triển đó.
Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là chủ thé cải tạo, thay đôi giới tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của mình, và như vậy, con người vừa là chủ thé, vừa là khách thé của quá trình nhận thức. Con người với tư cách một thực thể sinh học - xã hội, có ý thức mới, có năng lực dé nhận thức được ban chất, quy luật vận động của giới tự nhiên và cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu của mình. Qua đó, con người cũng tự nhận thức, tự cải biến mình trong thực tiễn.Mác đã dự đoán, khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về con người và khoa học về con người bao hàm trong nó các khoa học tự nhiên - tất cả sẽ trở thành một khoa học. Trong tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, con người và bản chất con người, mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và xã hội, vai trò chủ thé lịch sử của con người và vấn đề phát triển con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.
Mỗi ngành khoa học lại tiếp cận trên một phương diện khác nhau. Khoa học tự nhiên thường tiếp cận nghiên cứu con người từ bản thể sinh học, cấu trúc của con người. Trong khi đó, các ngành khoa học xã hội lại tiếp cận từ lĩnh vực tinh thần - một lĩnh vực phản ánh rõ nét và mang đậm tính người. Hai khoa học này tiếp cận trên hai khía cạnh khác nhau đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong việc khám phá bản chất của con người.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi là bản chất con người là gì, con người có vai trò như thế nào trong đời sống tự nhiên cũng như xã hội và đối với chính lịch sử phát 17 triển của mình thì không phải là khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội có thể trả lời được một cách đầy đủ và có tính thuyết phục. Trên cơ sở quan niệm duy vật biện chứng, C.Mác đã đi tìm cội nguồn, gốc rễ của vấn đề này.Mác xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, ông đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong quan niệm về con người, bản chất con người và về mối quan hệ con người với giới tự nhiên và xã hội. Với cách tiếp cận này, C.Mác đã từng bước lý giải bản chất cũng như vai tro của con người đối với sự phát triển của lịch sử. Đó là: Thứ nhất, tôn tại người là sự thống nhất biện chứng giữa cải tự nhiên tự nó và cái tự nhiên được sáng tao bởi con người, giữa thực thể tự nhiên và thực thể xã hội, giữa cải xã hội và cái cá nhân, giữa bản tính tự nhiên và bản chất xã hội của con người.
Trong học thuyết Mác về con người, tồn tại người là một quan niệm có tính nên tảng mà từ đó, C.Mác đã đưa ra những luận điểm, quan điểm, tư tưởng duy vật biện chứng về bản chất con người, mối quan hệ con người - tự nhiên - xã hội, vai trò chủ thé sáng tạo lich sử của con người và giải phóng con người. Xuất phat từ lập trường duy vật biện chứng, trên cơ sở phê phán một cách có luận cứ khoa học quan niệm của các nhà triết học cổ điển Đức, đặc biệt là phê phán quan niệm duy tâm của Hêghen coi con người chỉ là sự hiện thân của "ý niệm tuyệt đối" và quan niệm duy vật siêu hình của Phoiơbắc coi con người như một thực thể tự nhiên thuần tuý, C.Mác đã đưa ra một quan niệm độc đáo, đúng đắn và khoa học về tồn tại người khi khang định con người là một thực thé sinh học - xã hội. Khi chỉ rõ những sai lầm về phương diện khoa học trong quan niệm tôn giáo về tồn tại người - quan niệm coi ton tại người là "một ton tại siêu nhân", một tồn tại ngoài con người và trên con người, "trong tính hiện thực ảo tưởng" của con người ở thé giới bên kia, C.Mác đã chỉ rõ "con người không phải là một sinh vật trừu tượng, an nau đâu đó ở ngoài thé giới. Con người chính là thé giới con người, là nhà nước, là xã hội", "gốc rễ của con người chính là ban thân con người" [84, tr.
580], "người là sinh vật tối cao đối với con người" [84, tr. 581], "bản thân con người là bản chat tối cao của con người" [84, tr. Khi phê phán quan niệm duy tâm - tư biện về con người.Mác cho rằng, 18 những khái niệm trừu tượng, tư biện, những "ý niệm tuyệt đối" chăng qua chỉ là sự xuyên tạc mang tính tư tưởng hệ bản chất thực sự của con người. Rang, dé tim ra ban chat đích thực của con người va nhận thức đúng đắn đời sống hiện thực, người ta không cần đến những khái niệm trừu tượng, tư biện ay, ma can phải nghiên cứu một cách cụ thé đời sống sinh hoạt hiện thực của con người và chỉ bằng cách này mới có thé lý giải được sự tồn tại của con người trong thé giới.Mác cho rằng, bản thân đời sống sinh hoạt của con người vốn đã mang tính hiện thực, hoạt động cơ bản của con người là hoạt động sản xuất vật chất của những cá nhân nắm quyền làm chủ các lực lượng sản xuất nhất định, hoạt động trong khuôn khổ của những "quan hệ giao tiếp" nhất định.
Các khái niệm, dẫu có là khái niệm trừu tượng, tư biện thì theo C.Mác, chúng cũng vẫn chỉ là những khái niệm phản ánh đời sống sinh hoạt hiện thực, phản ánh hoạt động sản xuất vật chất của con người và tất yếu, chúng phải mang tính khách quan, mang tính hiện thực. Do vậy, khi xem xét con người và sự ton tại của nó trong thế giới, cần phải cham đứt những bàn luận chung chung, trừu tượng về con người, phải xuất phát từ chính con người với tư cách "cá nhân kinh nghiệm", từ những cá nhân mà trong đời sống sinh hoạt, trong mọi hoạt động của họ đều luôn dựa vào những tiền đề hiện thực và trong những điều kiện thực tiễn xác định. Đồng thời, phải xem xét hoạt động của con người trong tính quy định cụ thé của nó, tức là trong tông thể các lực lượng sản xuất, các quan hệ sản xuất, cũng như các hình thức tổ chức xã hội của con người. Từ quan niệm đó, C.Mác cho rang, giới tự nhiên bao giờ cũng tồn tại một cách hiện thực đối với con người và là đối tượng cho hoạt động của con người.
Song trong mọi hoạt động của mình, con người bao giờ cũng xuất phát từ những nhu cầu của bản thân mình và đây cũng chính là cái tạo nên tính đặc thù cho sự vận động lịch sử của đời sống sinh hoạt hiện thực của con người, cũng như cho việc nhận thức vận động ấy. Và, khi phân tích đời sống sinh hoạt hiện thực của con người trong xã hội tư bản trên cơ sở xem xét xã hội này với tính cách là một hệ thống xã hội đặc thù, được đặc trưng bởi một sự phat triển nhất định của lực lượng sản xuất và của các quan hệ sản xuất tương ứng, C.Mác đã phát hiện ra những đặc trưng phổ biến trong đời sông sinh hoạt xã hội của con người. Trong xã hội tư bản, 19 những đặc trưng phổ biến ấy, theo C.Mác, đã dat tới trình độ phát triển cao và nhờ vậy, cơ sở hiện thực của tồn tại người đã trở nên rõ ràng. Xem xét tồn tại nguol bang việc xác định tiền dé đầu tiên cho moi su tồn tại của con người và do đó, cũng là tiền đề đầu tiên của lịch sử nhân loại là con người phải có khả năng sống rồi mới có thể "làm ra lịch sử", mà để sống được, trước hết con người phải sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình bằng cách tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên, C.Mác cho rằng, đặc tính hiện thực của con người hay con người tồn tại hiện thực, tồn tại một cách khách quan chính là con người ton tại trong hoạt động thực tiễn của nó, là "những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra" [86, tr.
28 - 29], là "những con người, không phải những con người ở trong một tình trạng biệt lập và có định tưởng tượng mà là những con người trong quá trình phát triển - quá trình phát triển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới những điều kiện nhất định" [86, tr. Và do vậy, theo C.Mac, tính hiện thực của bản chất con người cũng được thé hiện trước hết ở chỗ, con người ton tại thực, hiển nhiên, cảm tính - con người tn tại trong tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người.Mác viết: "Con người là một sinh vật có tính loài. con người đối xử với bản thân mình như với một loài hiện đang song. như với một thực thé phổ biến va do đó là một thực thé tự do" [96, tr.
Và, "về mặt thể xác thì ở con người cũng như ở con vật, đời sống có tính loài là ở chỗ con người (cũng như con vật) sống bằng giới tự nhiên vô cơ", "giới tự nhiên là tư liệu sinh sống trực tiếp đối với con người.là vật liệu, đối tượng và công cụ của hoạt động sinh sống của con người". Giới tự nhiên với tư cách đó "là (hân thể vô cơ của con người", thân thể mà với nó, "con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp dé tồn tại". Ca đời sống thé xác lẫn đời sống tinh than của con người đều gắn liền với giới tự nhiên. Và điều đó chang qua chỉ có nghĩa là "giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phan của giới tự nhiên" [96, tr.
20 Như vậy, rõ ràng là, trong quan niệm của C.