Luận án tiến sĩ: Quan điểm của C. Mác về phát triển con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu triết học quan điểm của c mác về phát triển con người và sự vận dụng ở việt nam hiện nay, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ triết học

2013

213
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

1.1. Quan niệm của C.Mác về con người và bản chất con người

1.2. Phát triển con người một cách toàn diện

1.3. Phát triển con người gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, thông qua lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người

1.4. Phát triển con người vì mục tiêu giải phóng con người

2. SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Sự vận dụng, phát triển quan điểm của C.Mác về phát triển con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh

2.2. Sự vận dụng, phát triển quan điểm của C.Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới

2.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của con người trong công cuộc đổi mới đất nước

2.2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước

2.2.3. Thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong phát triển con người ở Việt Nam

2.3. Phương hướng và giải pháp phát triển con người Việt Nam

2.3.1. Phương hướng phát triển con người Việt Nam hiện nay

2.3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển con người Việt Nam hiện nay

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Quan điểm của C

C. Mác đã xây dựng quan điểm về phát triển con người dựa trên nền tảng triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Theo ông, con người là chủ thể sáng tạo lịch sử, và sự phát triển của con người phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội. C. Mác nhấn mạnh rằng, người lao động là trung tâm của quá trình phát triển, và sự giải phóng con người chỉ có thể đạt được thông qua việc xóa bỏ sự tha hóa trong lao động. Quan điểm này không chỉ mang tính lý luận sâu sắc mà còn có giá trị thực tiễn lớn, đặc biệt trong bối cảnh xã hội chủ nghĩa.

1.1. Quan niệm của C. Mác về con người và bản chất con người

C. Mác cho rằng, con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, đồng thời là chủ thể của lịch sử. Bản chất con người được xác định thông qua các mối quan hệ xã hội và hoạt động thực tiễn. Ông nhấn mạnh rằng, con người không chỉ tồn tại mà còn phải phát triển toàn diện, bao gồm cả thể chất, trí tuệ và tinh thần. Quan niệm này làm nền tảng cho việc xây dựng phát triển con người toàn diện.

1.2. Phát triển con người gắn liền với phát triển kinh tế xã hội

Theo C. Mác, phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự phát triển của con người. Ông cho rằng, chỉ khi nền kinh tế phát triển, con người mới có điều kiện để cải thiện chất lượng cuộc sống và thực hiện các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, C. Mác cũng cảnh báo về nguy cơ tha hóa trong lao động nếu quá trình phát triển kinh tế không đi đôi với công bằng xã hội.

II. Ứng dụng quan điểm của C

Việt Nam đã vận dụng quan điểm của C. Mác về phát triển con người trong quá trình đổi mới và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam coi con người là trung tâm của sự phát triển, và các chính sách kinh tế - xã hội đều hướng tới mục tiêu phát triển bền vữngcông bằng xã hội. Quan điểm này được thể hiện rõ trong các chiến lược phát triển giáo dục, y tế, và an sinh xã hội.

2.1. Sự vận dụng trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển quan điểm của C. Mác về phát triển con người trong bối cảnh Việt Nam. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trong việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Hồ Chí Minh cũng đề cao tính nhân văn trong phát triển, coi con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển.

2.2. Chiến lược phát triển con người của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển con người toàn diện dựa trên quan điểm của C. Máctư tưởng Hồ Chí Minh. Chiến lược này tập trung vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống, đảm bảo công bằng và bình đẳng, và thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với phát triển xã hội. Các chính sách về giáo dục, y tế, và an sinh xã hội đều hướng tới mục tiêu này.

III. Thực trạng và giải pháp phát triển con người tại Việt Nam

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển con người, Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức, như sự chênh lệch giàu nghèo, chất lượng giáo dục chưa đồng đều, và vấn đề môi trường. Để giải quyết những vấn đề này, cần tiếp tục vận dụng quan điểm của C. Máctư tưởng Hồ Chí Minh trong việc hoạch định chính sách.

3.1. Thực trạng phát triển con người ở Việt Nam

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc nâng cao chất lượng cuộc sốnggiáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các vùng miền và nhóm dân cư vẫn còn lớn. Điều này đòi hỏi các chính sách phát triển phải tập trung vào việc giảm thiểu bất bình đẳng và đảm bảo công bằng xã hội.

3.2. Giải pháp phát triển con người bền vững

Để đạt được phát triển bền vững, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư vào giáo dục và đào tạo, cải thiện hệ thống y tế, và thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Các chính sách cần hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện, đảm bảo công bằng và bình đẳng, và nâng cao tính nhân văn trong phát triển.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 QUAN DIEM CUA C.MÁC VE PHÁT TRIEN CON NGƯỜI 1. Quan niệm duy vật của C.Mac về con người với tư cách cơ sở nền tảng để xây dựng quan điểm về phát triển con người 1. Quan niệm của C.Mác về con người và bản chất con người Lịch sử phát triển của loài người, theo quan điểm của C.Mác, là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác tiến bộ hơn do sự vận động của xã hội. Trong đó, con người với tư cách là chủ thể của xã hội đóng vai trò quyết định và là động lực thúc đây sự vận động, phát triển đó.

Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là chủ thé cải tạo, thay đôi giới tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của mình, và như vậy, con người vừa là chủ thé, vừa là khách thé của quá trình nhận thức. Con người với tư cách một thực thể sinh học - xã hội, có ý thức mới, có năng lực dé nhận thức được ban chất, quy luật vận động của giới tự nhiên và cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu của mình. Qua đó, con người cũng tự nhận thức, tự cải biến mình trong thực tiễn.Mác đã dự đoán, khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về con người và khoa học về con người bao hàm trong nó các khoa học tự nhiên - tất cả sẽ trở thành một khoa học. Trong tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, con người và bản chất con người, mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và xã hội, vai trò chủ thé lịch sử của con người và vấn đề phát triển con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.

Mỗi ngành khoa học lại tiếp cận trên một phương diện khác nhau. Khoa học tự nhiên thường tiếp cận nghiên cứu con người từ bản thể sinh học, cấu trúc của con người. Trong khi đó, các ngành khoa học xã hội lại tiếp cận từ lĩnh vực tinh thần - một lĩnh vực phản ánh rõ nét và mang đậm tính người. Hai khoa học này tiếp cận trên hai khía cạnh khác nhau đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong việc khám phá bản chất của con người.

Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi là bản chất con người là gì, con người có vai trò như thế nào trong đời sống tự nhiên cũng như xã hội và đối với chính lịch sử phát 17 triển của mình thì không phải là khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội có thể trả lời được một cách đầy đủ và có tính thuyết phục. Trên cơ sở quan niệm duy vật biện chứng, C.Mác đã đi tìm cội nguồn, gốc rễ của vấn đề này.Mác xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, ông đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong quan niệm về con người, bản chất con người và về mối quan hệ con người với giới tự nhiên và xã hội. Với cách tiếp cận này, C.Mác đã từng bước lý giải bản chất cũng như vai tro của con người đối với sự phát triển của lịch sử. Đó là: Thứ nhất, tôn tại người là sự thống nhất biện chứng giữa cải tự nhiên tự nó và cái tự nhiên được sáng tao bởi con người, giữa thực thể tự nhiên và thực thể xã hội, giữa cải xã hội và cái cá nhân, giữa bản tính tự nhiên và bản chất xã hội của con người.

Trong học thuyết Mác về con người, tồn tại người là một quan niệm có tính nên tảng mà từ đó, C.Mác đã đưa ra những luận điểm, quan điểm, tư tưởng duy vật biện chứng về bản chất con người, mối quan hệ con người - tự nhiên - xã hội, vai trò chủ thé sáng tạo lich sử của con người và giải phóng con người. Xuất phat từ lập trường duy vật biện chứng, trên cơ sở phê phán một cách có luận cứ khoa học quan niệm của các nhà triết học cổ điển Đức, đặc biệt là phê phán quan niệm duy tâm của Hêghen coi con người chỉ là sự hiện thân của "ý niệm tuyệt đối" và quan niệm duy vật siêu hình của Phoiơbắc coi con người như một thực thể tự nhiên thuần tuý, C.Mác đã đưa ra một quan niệm độc đáo, đúng đắn và khoa học về tồn tại người khi khang định con người là một thực thé sinh học - xã hội. Khi chỉ rõ những sai lầm về phương diện khoa học trong quan niệm tôn giáo về tồn tại người - quan niệm coi ton tại người là "một ton tại siêu nhân", một tồn tại ngoài con người và trên con người, "trong tính hiện thực ảo tưởng" của con người ở thé giới bên kia, C.Mác đã chỉ rõ "con người không phải là một sinh vật trừu tượng, an nau đâu đó ở ngoài thé giới. Con người chính là thé giới con người, là nhà nước, là xã hội", "gốc rễ của con người chính là ban thân con người" [84, tr.

580], "người là sinh vật tối cao đối với con người" [84, tr. 581], "bản thân con người là bản chat tối cao của con người" [84, tr. Khi phê phán quan niệm duy tâm - tư biện về con người.Mác cho rằng, 18 những khái niệm trừu tượng, tư biện, những "ý niệm tuyệt đối" chăng qua chỉ là sự xuyên tạc mang tính tư tưởng hệ bản chất thực sự của con người. Rang, dé tim ra ban chat đích thực của con người va nhận thức đúng đắn đời sống hiện thực, người ta không cần đến những khái niệm trừu tượng, tư biện ay, ma can phải nghiên cứu một cách cụ thé đời sống sinh hoạt hiện thực của con người và chỉ bằng cách này mới có thé lý giải được sự tồn tại của con người trong thé giới.Mác cho rằng, bản thân đời sống sinh hoạt của con người vốn đã mang tính hiện thực, hoạt động cơ bản của con người là hoạt động sản xuất vật chất của những cá nhân nắm quyền làm chủ các lực lượng sản xuất nhất định, hoạt động trong khuôn khổ của những "quan hệ giao tiếp" nhất định.

Các khái niệm, dẫu có là khái niệm trừu tượng, tư biện thì theo C.Mác, chúng cũng vẫn chỉ là những khái niệm phản ánh đời sống sinh hoạt hiện thực, phản ánh hoạt động sản xuất vật chất của con người và tất yếu, chúng phải mang tính khách quan, mang tính hiện thực. Do vậy, khi xem xét con người và sự ton tại của nó trong thế giới, cần phải cham đứt những bàn luận chung chung, trừu tượng về con người, phải xuất phát từ chính con người với tư cách "cá nhân kinh nghiệm", từ những cá nhân mà trong đời sống sinh hoạt, trong mọi hoạt động của họ đều luôn dựa vào những tiền đề hiện thực và trong những điều kiện thực tiễn xác định. Đồng thời, phải xem xét hoạt động của con người trong tính quy định cụ thé của nó, tức là trong tông thể các lực lượng sản xuất, các quan hệ sản xuất, cũng như các hình thức tổ chức xã hội của con người. Từ quan niệm đó, C.Mác cho rang, giới tự nhiên bao giờ cũng tồn tại một cách hiện thực đối với con người và là đối tượng cho hoạt động của con người.

Song trong mọi hoạt động của mình, con người bao giờ cũng xuất phát từ những nhu cầu của bản thân mình và đây cũng chính là cái tạo nên tính đặc thù cho sự vận động lịch sử của đời sống sinh hoạt hiện thực của con người, cũng như cho việc nhận thức vận động ấy. Và, khi phân tích đời sống sinh hoạt hiện thực của con người trong xã hội tư bản trên cơ sở xem xét xã hội này với tính cách là một hệ thống xã hội đặc thù, được đặc trưng bởi một sự phat triển nhất định của lực lượng sản xuất và của các quan hệ sản xuất tương ứng, C.Mác đã phát hiện ra những đặc trưng phổ biến trong đời sông sinh hoạt xã hội của con người. Trong xã hội tư bản, 19 những đặc trưng phổ biến ấy, theo C.Mác, đã dat tới trình độ phát triển cao và nhờ vậy, cơ sở hiện thực của tồn tại người đã trở nên rõ ràng. Xem xét tồn tại nguol bang việc xác định tiền dé đầu tiên cho moi su tồn tại của con người và do đó, cũng là tiền đề đầu tiên của lịch sử nhân loại là con người phải có khả năng sống rồi mới có thể "làm ra lịch sử", mà để sống được, trước hết con người phải sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình bằng cách tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên, C.Mác cho rằng, đặc tính hiện thực của con người hay con người tồn tại hiện thực, tồn tại một cách khách quan chính là con người ton tại trong hoạt động thực tiễn của nó, là "những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra" [86, tr.

28 - 29], là "những con người, không phải những con người ở trong một tình trạng biệt lập và có định tưởng tượng mà là những con người trong quá trình phát triển - quá trình phát triển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới những điều kiện nhất định" [86, tr. Và do vậy, theo C.Mac, tính hiện thực của bản chất con người cũng được thé hiện trước hết ở chỗ, con người ton tại thực, hiển nhiên, cảm tính - con người tn tại trong tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người.Mác viết: "Con người là một sinh vật có tính loài. con người đối xử với bản thân mình như với một loài hiện đang song. như với một thực thé phổ biến va do đó là một thực thé tự do" [96, tr.

Và, "về mặt thể xác thì ở con người cũng như ở con vật, đời sống có tính loài là ở chỗ con người (cũng như con vật) sống bằng giới tự nhiên vô cơ", "giới tự nhiên là tư liệu sinh sống trực tiếp đối với con người.là vật liệu, đối tượng và công cụ của hoạt động sinh sống của con người". Giới tự nhiên với tư cách đó "là (hân thể vô cơ của con người", thân thể mà với nó, "con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp dé tồn tại". Ca đời sống thé xác lẫn đời sống tinh than của con người đều gắn liền với giới tự nhiên. Và điều đó chang qua chỉ có nghĩa là "giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phan của giới tự nhiên" [96, tr.

20 Như vậy, rõ ràng là, trong quan niệm của C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quan điểm của C. Mác về phát triển con người và ứng dụng tại Việt Nam hiện nay" khám phá những tư tưởng của C. Mác về sự phát triển con người, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục trong bối cảnh hiện đại. Tác giả phân tích cách mà các quan điểm của Mác có thể được áp dụng để cải thiện điều kiện sống và phát triển con người tại Việt Nam, từ đó tạo ra một xã hội công bằng và tiến bộ hơn.

Đối với những ai quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển con người, tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc và những ứng dụng thực tiễn. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục nâng cao chất lượng giáo dục tuyên truyền học tập và làm theo tấm gương đạo đức hồ chí minh cho cán bộ đảng viên thành phố sông công tỉnh thái nguyên, nơi bàn về việc áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quan niệm của hồ chí minh về sức khoẻ với việc xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa sức khỏe và phát triển con người. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng chính trị cho sinh viên tỉnh bắc ninh trong giai đoạn hiện nay sẽ cung cấp thêm thông tin về giáo dục tư tưởng chính trị trong bối cảnh hiện tại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và áp dụng các quan điểm vào thực tiễn.