CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Lý luận về đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm về đô thị Trong ngôn ngữ phương Tây, từ “đô thị”(1) có nguồn gốc từ thuật ngữ “Urbanus” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “cư dân thành phố” (city dweller). Cho đến nay, các thuật ngữ “urban” (đô thị), “city” (thành phố), “town” (thị trấn) được dùng để chỉ các khu định cư hạt nhân đa chức năng, được thiết lập và sử dụng đất để cư trú hoặc sản xuất kinh doanh (Phạm Thị Xuân Thọ, 2008, tr.
Thời Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ “polis” (thành bang, thành thị) dùng để chỉ các trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học của Hy Lạp lúc bấy giờ, nổi tiếng nhất là Athens (thành bang dân chủ) và Sparte (thành bang quân sự). Về sau “polis” được dùng như một thuật ngữ quốc tế, được ghép thêm tiếp đầu ngữ như “metropolis”, “megalopolis” để chỉ các đô thị có các quy mô khác nhau. Tiếng Việt có nhiều thuật ngữ liên quan đến đô thị như “thành thị”, “thành phố” “thị xã”, “thị trấn”, “thị tứ”. Các thuật ngữ đó đều có hai thành tố: “đô”, “thành”, “trấn”, “xã”,… thể hiện chức năng hành chính và đặc trưng cho tính “tĩnh”.
Thành tố thứ hai là “thị”, “phố” có nghĩa là chợ - nơi buôn bán, đặc trưng cho tính “động” của đô thị. Như vậy, đô thị là nơi vừa có chức năng hành chính lẫn kinh tế, vừa tĩnh lại vừa động. Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt (1988) đã định nghĩa đô thị là nơi “dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp” (Hoàng Phê, 1998, tr. Tương tự, các nhà địa lí học định nghĩa đô thị là “nơi tập trung dân cư đông đúc, nơi đó dân cư chủ yếu hoạt động trong các ngành sản xuất công nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý hành chính, văn hóa và các chức năng phi nông nghiệp khác” (Phạm Thị Xuân Thọ, 2008, tr.
Định nghĩa này được hình thành trên cơ sở những nghiên cứu về đô thị của Friedrich Ratzel, Richtofen, Yu. Xauskin(2),… 13 Các định nghĩa về đô thị trên nêu ra hai đặc trưng để định tính chất và quy mô. Tính chất của đô thị được gắn liền với yếu tố kinh tế phi nông nghiệp (3); quy mô được xác định bằng mức độ tập trung dân số bao gồm tổng số dân cư và mật độ dân cư. Theo Liên Hiệp Quốc, các điểm dân cư có quy mô dân số trên 20.000 dân và trên 70% dân số phi nông nghiệp được coi là đô thị.
Tuy nhiên, tùy vào đặc thù dân số của từng nơi mà tiêu chuẩn dân số để đánh giá đô thị ở mỗi khu vực, quốc gia cũng có sự khác nhau. Bên cạnh việc nhận dạng đô thị thông qua hai tiêu chí trên, một số định nghĩa tiếp cận khái niệm đô thị ở khía cạnh các yếu tố nội tại của nó. Các nhà nghiên cứu đô thị của Mỹ quan tâm đến mối quan hệ kinh tế - xã hội trong các đô thị, cho rằng đô thị là “nơi tập trung dân cư với quy mô lớn tại một khu vực địa dư cụ thể trong đó người ta hỗ trợ nhau một cách thường xuyên và sòng phẳng thông qua các hoạt động kinh tế của khu vực đó”, “đô thị là nơi có cơ hội để có được một môi trường sống đa dạng và nhiều kiểu sống khác nhau” (Eisner, Gallion & Eisner, 1993, tr. Bách khoa toàn thư American Encyclopedia nhấn mạnh yếu tố điều kiện - lối sống khi định nghĩa về đô thị: “thành phố (city) chỉ là một tập hợp dân cư có một qui mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem là theo kiểu đô thị, trái ngược với đời sống nông thôn ở miền thôn dã.
Theo nghĩa đó, thành phố là một hiện tượng chung của xã hội văn minh”. Tiếp cận đô thị từ phương diện lối sống, Louis Wirth, một nhà nghiên cứu về đô thị thuộc trường phái Chicago cho rằng đô thị và nông thôn có thể được xem như là hai cực liên quan đến nhau mà trong đó cư dân tổ chức cuộc sống của mình (Wirth, 1938, tr. Cũng theo Wirth, bản chất của quá trình chuyển đổi từ nông thôn thành đô thị là chuyển đổi từ giao tiếp liên cá nhân (trực tiếp giữa người với người) trên cơ sở gia đình, họ tộc, làng xóm sang giao tiếp đại chúng thông qua các phương tiện truyền thông,… 1. Tiêu chí xác định, phân loại đô thị tại Việt Nam Các căn cứ để xác định đô thị của Việt Nam thường dựa vào chức năng vai trò, quy mô và mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và cảnh 14 quan đô thị.
Theo thông tư liên tịch số 31/TTLD(4), đô thị là “điểm tập trung dân cư với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc huyện” (Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ - Bộ Xây dựng, 1990, tr. Tương tự, luật Quy hoạch Đô thị, được ban hành ngày 17/6/2009 t ại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XII, quy định: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn” (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2009, tr. Về phân loại đô thị, từ năm 1990, đô thị Việt Nam được phân thành 05 cấp từ loại I đến loại V phù hợp mới quy mô và chức năng để quản lý (Hội đồng Bộ trưởng, 1990, tr. Đến năm 2001, cùng sự phát triển nhanh và đa dạng của hệ thống đô thị Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2001/NĐ-CP điều chỉnh việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị phù hợp với tình hình thực tế, trong đó thay đổi một số tiêu chí phân loại đô thị, đồng thời phân cấp lại hệ thống đô thị Việt Nam thành 6 cấp (thêm cấp “Đô thị đặc biệt” gồm thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh).
Năm 2009, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 về việc phân loại đô thị, quy định việc đánh giá đô thị phải căn cứ vào 6 tiêu chí, bao gồm chức năng đô thị, quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, yêu cầu về công trình hạ tầng đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị. Với cách phân loại này, hệ thống đô thị Việt Nam vẫn được chia thành 6 cấp căn cứ vào các tiêu chuẩn phân loại cụ thể khác nhau. Khái niệm về đô thị hóa Đô thị hóa hiểu một cách đơn giản nhất là việc biến đổi một khu vực dân cư trở thành đô thị hoặc mở rộng quy mô đô thị có sẵn. Trong suốt chiều dài của lịch sử loài người, đô thị hóa là quá trình gắn với sự ra đời và mở rộng không ngừng của các đô thị thời cổ đại, các thành thị thời trung đại và cận đại cho đến các thành phố hiện đại.
Một số định nghĩa về đô thị hóa tập trung vào vấn đề dân số đô thị, cho rằng đô thị hóa là quá trình tập trung, mở rộng dân cư trong các đô thị thông qua con đường di cư từ nông thôn vào thành thị hoặc gia tăng dân số tự nhiên. Bách khoa toàn thư Britanica định nghĩa đô thị hóa là quá trình tập trung lâu dài một số lượng lớn dân cư vào một khu vực tương đối nhỏ, hình thành nên các đô thị (Bách Khoa toàn thư Anh, 2015). Tương tự, Từ điển Bách Khoa Larousse xem đô thị hóa là hiện tượng dân số tập trung ngày càng dày đặc tại những địa điểm có tính chất đô thị. Đô thị hóa được xác định bằng sự kiện tăng dân số và sự phát triển không gian của thành phố (Larousse, 2015).
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê cũng có định nghĩa tương tự và nhấn mạnh thêm vai trò của thành thị đối với phát triển xã hội: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” (Hoàng Phê, 1998, tr. Theo cách tiếp cận này, sự mở rộng của đô thị được tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị và tổng số dân hoặc diện tích đô thị trên tổng diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu gọi là mức độ đô thị hóa, còn theo cách thứ hai là tốc độ đô thị hóa.
Không thể phủ nhận sự tập trung dân số là tiêu chuẩn cần của việc hình thành đô thị. Tuy nhiên, đô thị hóa là phức hợp của nhiều yếu tố tác động, chuyển hóa không ngừng nên nếu chỉ dựa vào yếu tố gia tăng và tập trung dân số thì chưa thể hiện được quá trình chuyển động phức tạp, đa diện, đa chiều của quá trình đô thị hóa. Tiếp cận đô thị hóa ở góc độ dân số chỉ mới phản ánh được hiện tượng, chứ 16 không phải là bản chất của quá trình này. Do vậy, một số định nghĩa khác về đô thị hóa tập trung vào khía cạnh chuyển đổi trong quá trình đô thị hóa.
Đàm Trung Phường xem đô thị hóa là quá trình“chuyển dịch từ hoạt động nông nghiệp (hiểu rộng) phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp gọi là đô thị” (Đàm Trung Phường, 1995, tr. Trong khi đó, Nguyễn Minh Hòa xem xét đô thị hóa ở góc độ rộng hơn, đó là quá trình: “chuyển đổi từ tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) sang phi nông. Tức là chuyển đổi hình thức cư trú từ những nơi vốn là nông thôn lạc hậu, nghèo nàn với kiểu cư trú truyền thống trở thành nơi cư trú mới có đời sống văn minh và quan trọng nhất ở đây là sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp từ những người nông dân làm nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt) sang hoạt động phi nông nghiệp (công nghiệp - thương mại - dịch vụ)” (Nguyễn Minh Hòa, 2004, tr.