CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái quát về xếp hạng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có tầm quan trọng ngày càng lớn vì phạm vi hoạt động của họ có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế thế giới. Theo Cơ quan quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa thì DNNVV chiếm tới 90 % số lượng doanh nghiệp trên thế giới và 40 – 50 % GDP của các nước. Tại khu vực APEC, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 80% và sử dụng khoảng 60 % lực lượng lao động.
Hiện nay, trên thế giới, không có khái niệm chuẩn mực về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Rất nhiều các nước, các cơ quan, các tổ chức, các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa ra các tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV nhằm mục đích phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu của mình. Do đó, định nghĩa về DNNVV là tương đối khác nhau, có xu hướng thay đổi theo tính chất hoạt động, mục đích của việc xác định và mức độ phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Mặc dù có những khác biệt nhất định về quy định các tiêu thức phân loại DNNVV song khái niệm chung nhất về DNNVV có nội dung như sau: DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô DN trong những giới hạn nhất định và được tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu trung bình, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia.
Ở Việt Nam DNNVV được định nghĩa trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/09/2009 [5] như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, 4 vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô nghiệp siêu nhỏ Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động Khu vực vốn vốn I. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và thủy xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến sản 200 người tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và xây dựng xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến 200 người tỷ đồng 300 người III. Thương mại 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ xuống trở xuống người đến 50 đồng đến 50 người đến người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 30/6/2009) Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp”.
Như vậy DNNVV ở Việt Nam là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngoài những đặc điểm chung của DNNVV trong nền kinh tế thị trường, các DNNVV ở Việt Nam còn mang những đặc thù về sản xuất kinh doanh riêng: Khi nói đến các DNNVV là nói đến các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài 5 quốc doanh. Các DNNVV chủ yếu gồm các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có quy mô nhỏ, phân tán, khả năng liên kết với nhau kém, hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực chính là thương mại và dịch vụ đời sống, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, xây dựng và dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách - Các DNNVV ở nước ta có bộ máy quản lý gọn nhẹ, quy mô nhỏ, không cồng kềnh, phương thức quản lý năng động linh hoạt, phần lớn phát triển ở thành thị và nông thôn, nhưng thường tập trung ở các đô thị lớn, ven đô thành phố. - Quy mô sản xuất kinh doanh của các DNNVV ở Việt Nam còn nhỏ xuất phát từ vấn đề về vốn.
Nhìn chung ở nước ta phần lớn các DNNVV hoạt động trong tình trạng thiếu vốn. - Phần lớn các DNNVV ở nước ta hiện nay đang sử dụng công nghệ lạc hậu. Đây là khó khăn có tính nội tại nhưng là thách thức lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của bộ phận DNNVV. - Một vấn đề đáng lưu ý nữa là hiện nay đa số các DNNVV hoạt động có hiệu quả mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh đều nằm trong tình trạng thiếu đất để làm mặt bằng.
- Đội ngũ quản lý, các chủ DNNVV chưa được đào tạo đầy đủ, khả năng cập nhật thông tin còn yếu. Trình độ tổ chức, quản lý, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh còn non kém. - Trình độ tay nghề của đội ngũ lao động trong các DNNVV còn nhiều hạn chế. Đội ngũ lao động ít được đào tạo bài bản, thiếu kỹ năng (chỉ có khoảng 6% có trình độ đại học nhưng có tới gần 75% chưa tốt nghiệp PTTH).
Những hạn chế về trình độ của người lao động làm tăng chi phí về sử dụng lao động cho doanh nghiệp cũng như làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh chung. - Hệ thống sổ sách của phần lớn các DNNVV chưa thực sự minh bạch,các báo cáo tài chính còn mang tính chất đối phó, thiếu tin cậy. Trên thực tế có không ít doanh nghiệp xây dựng nhiều báo cáo khác nhau để nộp cho ngân hàng, cơ quan thuế và cho chủ doanh nghiệp. Nhiều DNNVV thường bán hàng không có hợp đồng 6 kinh tế, không tuân thủ chế độ phát hành hóa đơn bán hàng, hóa đơn, chứng từ còn mang tính hình thức, không phản ánh đúng thực trạng hoạt động.
Do vậy, các báo cáo tài chính của DNNVV không phải là cơ sở đáng tin cậy để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong tiến trình cải cách và phát triển kinh tế ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn. Tuy là những doanh nghiệp nhỏ về vốn, lao động, doanh thu, nhưng cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng và quy mô hoạt động, các DNNVV đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng, thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, giúp cải thiện mức sống của người dân, góp phần rất lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. - Do đặc tính phân bố rải rác khắp các vùng miền nên có thể đảm bảo cung cấp việc làm cho nhiều vùng địa lý, nhiều đối tượng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng chưa có điều kiện phát triển kinh tế.
Nhờ đó chúng vừa giải quyết vấn đề thất nghiệp vừa làm giảm tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm. - Hơn nữa do tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với các thay đổi của thị trường. Trong trường hợp có biến động xảy ra, các DN lớn sẽ đối phó khá chậm chạp, không phải do cấp quản lý bất tài mà bởi vì DN lớn khó xoay trở nhanh. Họ sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽ phải sa thải bớt lao động cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại và phát triển được trong điều kiện cung lớn hơn cầu.
Trong khí đó, do khả năng linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các DNNVV vẫn có thể tồn tại được mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảm lao động. - Hiện nay, các DNNVV ở Việt Nam đang thu hút 1/2 lực lượng lao động trong khu vực phi nông nghiệp. Cũng tương tự, ở các nước khác, các DNNVV là một trong những nguồn tạo việc làm nhiều nhất và năng động nhất. Rõ ràng đây là một nhân tố quan trọng đối với người chưa có việc làm ở các khu đô thị hoặc những người sống ở các vùng nông thôn đang tìm kiếm việc làm, những lao động dôi ra qua việc sắp xếp lại các DNNN và những người làm nông nghiệp trong lúc nhàn rỗi.
7 - Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: Ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các DN lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sóc cho nền kinh tế; - Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: DNNVV thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. - Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như DN lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.2 Khái niệm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Xếp hạng tín dụng (credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh (credit: là tín dụng hay tín dụng, ratings: là xếp hạng) do John Moody đưa ra vào năm 1909 khi đánh giá tín dụng của các doanh nghiệp ngành đường sắt.
Cùng năm đó, cuốn “cẩm nang chứng khoán đường sắt” được phát hành dựa trên việc nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu được xếp lần lượt là Aaa đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế). Tuy nhiên, xếp hạng tín dụng được phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị vỡ nợ và rơi vào phá sản. Chính phủ Hoa Kỳ đã quy định cấm các định chế đầu tư (các quỹ hưu trí, các quỹ bảo hiểm, ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín dụng.