Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis, họ phụ Vandoideae) là một trong những loài hoa phong lan có giá trị thẩm mỹ và hiệu quả kinh tế cao trên thị trường hoa cảnh thương mại nhờ hoa to, màu sắc đa dạng, cấu trúc cân đối và độ bền hoa kéo dài. Tại Việt Nam, các loài lan Hồ Điệp tự nhiên phân bố từ vùng núi phía Bắc đến phía Nam và một số đảo ven biển. Tuy nhiên, nhiều loài bản địa đang đối mặt với nguy cơ đe dọa tuyệt chủng và đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Mặt khác, nhu cầu tiêu thụ hoa lan Hồ Điệp thương phẩm ngày càng tăng đòi hỏi nguồn giống sạch bệnh, đồng đều về mặt di truyền và có hệ số nhân giống cao.

Trong tự nhiên và sản xuất truyền thống, lan Hồ Điệp là loài thực vật đơn thân, thân ngắn, không có giả hành, ít đẻ chồi nhánh nên không thể áp dụng hiệu quả kỹ thuật tách bụi. Hạt lan Hồ Điệp có kích thước nhỏ như hạt bụi, hoàn toàn không có nội nhũ dự trữ dinh dưỡng nên trong điều kiện tự nhiên bắt buộc phải cộng sinh với nấm chuyên biệt mới có thể nảy mầm. Phương pháp giâm cành từ mắt ngủ phát hoa tốn nhiều thời gian và hệ số nhân rất thấp. Để giải quyết các hạn chế này, kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật (in vitro) và cải tiến bằng phương pháp cắt lát mỏng mô tế bào (thin cell layer) được xác định là giải pháp kỹ thuật nhằm gia tăng hệ số nhân giống, sản xuất cây giống quy mô công nghiệp mà không phụ thuộc vào mùa vụ.

Đề tài khóa luận “Nhân nhanh giống lan Hồ Điệp (P.Tai-Lin Red Angel) nhập nội bằng phương pháp in vitro” được thực hiện nhằm hoàn thiện các khâu kỹ thuật nhân giống in vitro cho giống lan Hồ Điệp hoa tím đậm nhập nội, từ khâu lựa chọn nguồn vật liệu ban đầu, xử lý khử trùng mẫu đến việc cải tiến môi trường và kỹ thuật nhân nhanh bằng lát mỏng nhằm nâng cao hệ số nhân và chất lượng chồi, thể giả chồi (protocorm).

Văn bản khóa luận xác định 3 yêu cầu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định được nguồn vật liệu thích hợp để đưa vào nhân giống (bao gồm nguồn vật liệu hạt và nguồn vật liệu cơ quan sinh dưỡng).
  2. Cải tiến môi trường nuôi cấy khởi động tái sinh mẫu để gia tăng nguồn mẫu ban đầu.
  3. Cải tiến môi trường nhân nhanh để gia tăng hệ số nhân giống thông qua kỹ thuật cắt lát mỏng mô thực vật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống lan Hồ Điệp hoa tím đậm nhập nội (Phalaenopsis Tai-Lin Red Angel), có ký hiệu phòng thí nghiệm là giống 34902, do Trạm thực nghiệm Sinh học Công nghệ cao Văn Giang – Hưng Yên cung cấp.
  • Phạm vi không gian: Phòng nuôi cấy mô tế bào thuộc Trạm thực nghiệm Sinh học Công nghệ cao (Văn Giang – Hưng Yên), trực thuộc Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Thí nghiệm được tiến hành liên tục từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 06 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về tính toàn năng của tế bào thực vật (Haberlandt; Lê Trần Bình và cộng sự), theo đó mỗi tế bào phân hóa đều mang đầy đủ thông tin di truyền và có khả năng phản phân hóa để trở lại trạng thái phôi sinh, từ đó tái sinh thành một cơ thể thực vật hoàn chỉnh dưới sự điều hòa của các yếu tố ngoại sinh và chất kích thích sinh trưởng. Về đặc tính thực vật học, lan Hồ Điệp là loài thực vật quang hợp theo chu trình CAM (Crassulacean Acid Metabolism), khí khổng đóng ban ngày và mở ban đêm để hấp thụ CO2 nhằm hạn chế thoát hơi nước, rễ có khả năng quang hợp và chứa nấm cộng sinh.

Trong nuôi cấy in vitro, sự cân bằng giữa nhóm Auxin (kích thích phân chia tế bào, kéo dài tế bào, cảm ứng mô sẹo và rễ) và nhóm Cytokinin (kích thích phân chia tế bào, phá vỡ ưu thế ngọn, cảm ứng phân hóa chồi) đóng vai trò then chốt trong kiểm soát quá trình phát sinh hình thái. Đề tài tập trung khảo sát chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm Auxin là 2,4-D (Acid 2,4-dichlorophenoxyacetic) và nhóm Cytokinin là Kinetin (Ki).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Bố trí thí nghiệm: Các thí nghiệm được thiết kế theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD), lặp lại 3 lần cho mỗi công thức thí nghiệm. Môi trường nền sử dụng là môi trường MS (Murashige & Skoog, 1962), bổ sung đường sucrose (30 g/l), agar (3,5 g/l), dịch chiết khoai tây (150 g/l), than hoạt tính (2 g/l) tùy theo công thức, pH môi trường được chỉnh về 5,8 trước khi khử trùng ở nhiệt độ 121°C, áp suất 1,1 atm trong thời gian 25 phút.
  • Điều kiện nuôi cấy phòng thí nghiệm: Cường độ ánh sáng 2500 – 3000 lux (nguồn đèn huỳnh quang đặt cách bình nuôi cấy 35 – 40 cm), nhiệt độ phòng duy trì ở mức 25 ± 2°C, quang chu kỳ 12 – 14 giờ chiếu sáng/ngày.
  • Quy trình khử trùng mẫu cấy:
    • Đối với quả lan: Rửa sạch bằng xà phòng loãng 5 phút, khử trùng bề mặt bằng dung dịch HgCl2 0,1% trong 10 phút, tráng 3 lần bằng nước cất vô trùng, nhúng cồn 96° và hơ nhanh qua ngọn lửa đèn cồn trước khi bổ dọc lấy hạt.
    • Đối với mắt ngủ ngồng hoa và đỉnh cành: Rửa xà phòng loãng 5 phút, lau qua cồn 70°, lắc trong cồn 70° thời gian 1 phút, tráng nước cất vô trùng, khử trùng bằng HgCl2 0,1% trong 10 phút và tráng lại 3 lần bằng nước cất vô trùng.
  • Phương pháp cắt lát mỏng mô thực vật: Mẫu cấy (lá, mô protocorm) được cắt thành từng lát mỏng có kích thước khoảng 0,2 x 0,2 cm và đặt vào đĩa petri chứa môi trường nuôi cấy chuyên biệt.
  • Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính toán: Tỷ lệ mẫu sống (%), tỷ lệ nảy mầm (%), tỷ lệ mẫu phát sinh hình thái (%), tỷ lệ mẫu tạo chồi (%), tỷ lệ mẫu tạo protocorm (%), số lượng protocorm/mẫu và đánh giá chất lượng cảm quan hình thái (màu sắc, kích thước, lông hút).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thu thập và tính toán số liệu trung bình trên phần mềm Microsoft Excel. Phân tích phương sai (ANOVA) trên phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 4.0; so sánh sự sai khác giữa các giá trị trung bình bằng trắc nghiệm LSD (Least Significant Difference) ở mức ý nghĩa thống kê p = 0,05; đánh giá độ biến động thí nghiệm qua hệ số biến thiên CV%.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Chương này nêu rõ tính cấp thiết của đề tài nhân giống vô tính lan Hồ Điệp P.Tai-Lin Red Angel bằng phương pháp in vitro. Tác giả xác định mục tiêu tổng quát là tìm ra quy trình kỹ thuật thích hợp phục vụ sản xuất giống quy mô công nghiệp; phân định 3 yêu cầu cụ thể về lựa chọn nguồn mẫu và cải tiến môi trường; đồng thời xác định ý nghĩa khoa học trong việc làm sáng tỏ cơ chế tác động của Kinetin và 2,4-D lên sự phát sinh hình thái của lát mỏng mô lan Hồ Điệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa cơ sở khoa học về nuôi cấy mô tế bào thực vật, bao gồm tính toàn năng, quá trình phân hóa và phản phân hóa tế bào, cùng các yếu tố môi trường nuôi cấy (khoáng đa lượng, vi lượng, nguồn carbon sucrose, vitamin, dịch chiết tự nhiên như nước dừa, dịch chiết nấm men, agar và các chất điều hòa sinh trưởng thực vật Auxin, Cytokinin, Gibberellin, Ethylene). Chương này cũng mô tả chi tiết 5 giai đoạn vi nhân giống (chuẩn bị mẫu vô trùng, tái sinh, nhân nhanh, tạo cây hoàn chỉnh, đưa cây ra vườn ươm); đặc điểm hình thái rễ, thân, lá, hoa, quả của lan Hồ Điệp cùng yêu cầu sinh thái (nhiệt độ tối thích 22 – 27°C, ẩm độ 50 – 85%, tốc độ gió 10 – 15 km/h). Đồng thời, tác giả tổng thuật các công trình nghiên cứu trên thế giới (Rotor, 1949; Tanaka và cộng sự, 1976 – 1987; Tokuhara và Mii, 2001; Park So Young và cộng sự, 2002; Young và cộng sự, 2000 về nuôi cấy bioreactor) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Võ Thị Bạch Mai và Lê Văn Hướng, 1996; Nguyễn Quang Thạch và cộng sự, 2003 – 2005; Trần Thị Dung và cộng sự, 2005; Cung Hoàng Phi Phượng và cộng sự, 2007; Dương Tấn Nhựt và cộng sự, 2007).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết về vật liệu thực vật (giống lan 34902), trang thiết bị, hóa chất và địa điểm nghiên cứu tại Văn Giang – Hưng Yên. Quy định phương pháp bố trí cho 2 nội dung lớn gồm 6 thí nghiệm cụ thể:

  1. Đánh giá nguồn mẫu hạt (quả xanh 100 – 120 ngày tuổi so với quả chín 160 – 180 ngày tuổi).
  2. Đánh giá nguồn cơ quan sinh dưỡng (mắt ngủ ngồng hoa non, mắt ngủ ngồng hoa già, đỉnh ngọn cành hoa).
  3. Đánh giá ảnh hưởng đơn lẻ của Kinetin (0, 1, 2, 3 mg/l) lên phát sinh hình thái lát mỏng.
  4. Đánh giá ảnh hưởng đơn lẻ của 2,4-D (0; 0,1; 0,3; 0,5; 1,0 mg/l) lên phát sinh hình thái lát mỏng.
  5. Đánh giá ảnh hưởng tương tác phối hợp của 2,4-D và Kinetin (7 công thức phối hợp).
  6. Đánh giá ảnh hưởng của 5 loại nguồn mẫu cắt lát mỏng (đỉnh cành hoa, protocorm mới hình thành, protocorm cấy chuyển, cây in vitro sau 1 – 2 lần cấy chuyển, cây in vitro sau 3 – 4 lần cấy chuyển). Mô tả quy trình khử trùng mẫu, công thức pha chế môi trường MS và phương pháp phân tích thống kê trên IRRISTAT 4.0.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày và phân tích các số liệu thu được từ 6 thí nghiệm thực nghiệm:

  • Xác định nguồn vật liệu khởi đầu:
    • Thí nghiệm với hạt chỉ ra quả lan xanh (100 – 120 ngày tuổi) cho tỷ lệ nảy mầm đạt 96% sau 25 ngày, số bình nhiễm thấp (2/54 bình), protocorm hình thành nhiều và có màu xanh nhạt; vượt trội hơn quả chín (160 – 180 ngày tuổi) có tỷ lệ nảy mầm 90,7% sau 20 ngày nhưng tỷ lệ nhiễm cao hơn (5/54 bình) và protocorm có màu vàng nhạt.
    • Thí nghiệm cơ quan sinh dưỡng chỉ ra mắt ngủ từ ngồng hoa non (chưa nở hoa) cho tỷ lệ phát sinh hình thái cao nhất đạt 23%, tỷ lệ tạo chồi 14%, tỷ lệ tạo protocorm 9%, chất lượng chồi to đồng đều; cao hơn rõ rệt so với mắt ngủ ngồng hoa già (tỷ lệ phát sinh hình thái 13,33%, tạo chồi 10,33%, tạo protocorm 3%) và đỉnh ngọn cành hoa (tỷ lệ phát sinh hình thái 16,67%, tạo chồi 8%, tạo protocorm 8,67%).
  • Cải tiến giai đoạn nhân nhanh bằng phương pháp cắt lát mỏng mô:
    • Bổ sung Kinetin đơn lẻ: Nồng độ Kinetin 3 mg/l cho kết quả tối ưu nhất với tỷ lệ phát sinh hình thái đạt 23,33%, tỷ lệ tạo chồi đạt 10,0%, tỷ lệ tạo protocorm đạt 13,33%, thể protocorm tạo thành to, xanh và có nhiều lông hút (ở đối chứng 0 mg/l Ki, tỷ lệ phát sinh hình thái chỉ đạt 6,67% và mẫu chết dần từ tuần thứ 2).
    • Bổ sung 2,4-D đơn lẻ: Nồng độ 2,4-D 0,5 mg/l đạt tỷ lệ phát sinh hình thái cao nhất là 21,67%, tỷ lệ tạo chồi 8,33%, tỷ lệ tạo protocorm 13,33%, protocorm xanh to và đồng đều. Khi tăng nồng độ 2,4-D lên 1,0 mg/l, tỷ lệ phát sinh hình thái giảm xuống 18,33% và chất lượng mẫu kém đi.
    • Kết hợp Kinetin và 2,4-D: Công thức 6 (MS + 0,5 mg/l 2,4-D + 0,3 mg/l Ki) cho tỷ lệ phát sinh hình thái cao nhất đạt 24,0%, tỷ lệ tạo chồi đạt 6,0%, tỷ lệ tạo protocorm đạt 18,0%, protocorm thu được to, xanh và đồng đều.
    • Ảnh hưởng của nguồn mẫu cắt lát mỏng: Sử dụng lát mỏng từ thể protocorm mới hình thành mang lại hiệu quả cao nhất với tỷ lệ phát sinh hình thái đạt 24,67%, tỷ lệ tạo protocorm đạt 19,67% và số lượng protocorm trung bình đạt 3,18 protocorm/mẫu. Lát mỏng từ phát hoa hoặc đỉnh cành hoàn toàn không phát sinh hình thái (0%).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các thông số kỹ thuật tối ưu về nguồn vật liệu (quả xanh 100 – 120 ngày tuổi, mắt ngủ ngồng hoa non, lát mỏng từ thể protocorm mới hình thành) và các công thức môi trường MS bổ sung chất điều hòa sinh trưởng tối ưu cho quá trình tạo protocorm lát mỏng. Đồng thời đưa ra 2 kiến nghị về việc áp dụng kết quả vào sản xuất cây giống và tiếp tục nghiên cứu giai đoạn tạo rễ thành cây hoàn chỉnh.


Kết quả và đóng góp

Tổng hợp các kết quả thực nghiệm định lượng

Dưới đây là bảng tổng hợp các số liệu thực nghiệm chính được trích xuất trực tiếp từ các bảng kết quả của khóa luận:

Nội dung thí nghiệm Nghiệm thức tối ưu Tỷ lệ nảy mầm / PSHT (%) Tỷ lệ tạo chồi (%) Tỷ lệ tạo Protocorm (%) Đánh giá chất lượng hình thái
Nguồn mẫu hạt (Bảng 4.1) Quả xanh (100–120 ngày tuổi) 96,00% (nảy mầm) - - Protocorm nhiều, màu xanh nhạt, nhiễm 2/54 bình
Cơ quan sinh dưỡng (Bảng 4.2) Mắt ngủ ngồng hoa non (chưa nở) 23,00% (PSHT) 14,00% 9,00% Chồi tốt, protocorm to và đồng đều (LSD0.05 = 1,76; CV = 5,7%)
Ảnh hưởng Kinetin (Bảng 4.3) MS + 3,0 mg/l Kinetin 23,33% (PSHT) 10,00% 13,33% Protocorm nhiều, to, xanh, có lông hút (LSD0.05 = 1,34; CV = 4,0%)
Ảnh hưởng 2,4-D (Bảng 4.4) MS + 0,5 mg/l 2,4-D 21,67% (PSHT) 8,33% 13,33% Protocorm xanh, to, nhiều, đều nhau (LSD0.05 = 0,95; CV = 4,1%)
Phối hợp Ki + 2,4-D (Bảng 4.5) MS + 0,5 mg/l 2,4-D + 0,3 mg/l Ki 24,00% (PSHT) 6,00% 18,00% Protocorm to, xanh, đồng đều (LSD0.05 = 0,96; CV = 4,6%)
Nguồn mẫu lát mỏng (Bảng 4.6) Thể Protocorm mới hình thành 24,67% (PSHT) 5,00% 19,67% Protocorm nhiều, đồng đều, đạt 3,18 protocorm/mẫu (LSD0.05 = 1,1; CV = 4,1%)

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất

  1. Quy trình lựa chọn nguồn mẫu: Sử dụng quả lan xanh thu hoạch ở giai đoạn 100 – 120 ngày sau thụ phấn để gieo hạt vô trùng nhằm thu nhận protocorm ban đầu; sử dụng mắt ngủ trên ngồng hoa còn non (chưa nở hoa) làm vật liệu ban đầu khi nhân giống vô tính cơ quan sinh dưỡng.
  2. Kỹ thuật nhân nhanh lát mỏng: Áp dụng kỹ thuật cắt lát mỏng từ thể protocorm mới hình thành (kích thước 0,2 x 0,2 cm) cấy trên môi trường MS có bổ sung tổ hợp chất điều hòa sinh trưởng để nhân nhanh số lượng thể giống protocorm.
  3. Thành phần môi trường nhân nhanh tối ưu:
    • Công thức 1: Môi trường MS + 3 mg/l Kinetin + 150 g/l khoai tây + 2 g/l than hoạt tính + 30 g/l đường + 3,5 g/l agar.
    • Công thức 2: Môi trường MS + 0,5 mg/l 2,4-D + 150 g/l khoai tây + 2 g/l than hoạt tính + 30 g/l đường + 3,5 g/l agar.
    • Công thức 3: Môi trường MS + 0,5 mg/l 2,4-D + 0,3 mg/l Kinetin + 150 g/l khoai tây + 2 g/l than hoạt tính + 30 g/l đường + 3,5 g/l agar.

Đóng góp so với các công trình nghiên cứu trước

  • Kết quả xác định quả lan xanh 100 – 120 ngày tuổi đạt tỷ lệ nảy mầm 96% và nồng độ Kinetin 3 mg/l tối ưu cho lát mỏng hoàn toàn phù hợp và tái khẳng định các kết luận của Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (2003).
  • Kết quả nghiên cứu về nồng độ 2,4-D chỉ ra mức 0,5 mg/l là tối ưu cho sự phát sinh hình thái của lát mỏng lan Hồ Điệp tím P.Tai-Lin Red Angel. Tác giả thảo luận điểm khác biệt này so với công bố của Võ Thị Bạch Mai và Lê Văn Hướng (1996) khi các tác giả trước đó cho rằng nồng độ 2,4-D cần ở mức 1,0 mg/l mới cho hiệu quả tạo chồi tốt nhất. Sự khác biệt này được giải thích do đặc thù phản ứng của từng kiểu gen giống lan nhập nội và phương pháp sử dụng mô cắt lát mỏng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào 2 giai đoạn đầu của quy trình vi nhân giống: giai đoạn 1 (tuyển chọn, khử trùng vật liệu ban đầu) và giai đoạn 2 - 3 (cải tiến nhân nhanh tạo thể protocorm và chồi thông qua kỹ thuật cắt lát mỏng mô). Đề tài chưa khảo sát giai đoạn ra rễ tạo cây con hoàn chỉnh (giai đoạn 4) cũng như giai đoạn huấn luyện, chuyển cây con ra môi trường giá thể tự dưỡng ngoài nhà lưới (giai đoạn 5).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Bước đầu đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm sản xuất cây giống lan Hồ Điệp hoa tím đậm (Phalaenopsis Tai-Lin Red Angel) tại cơ sở thực nghiệm.
    • Tiếp tục thực hiện các thí nghiệm bổ sung chất kích thích tạo rễ (nhóm Auxin như NAA, IBA, IAA) để hoàn thiện quy trình tái sinh cây con hoàn chỉnh từ chồi và protocorm thu được từ lát mỏng.
    • Nghiên cứu cơ chất giá thể và điều kiện vi khí hậu thích hợp cho giai đoạn đưa cây con in vitro ra vườn ươm.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Công nghệ Sinh học, Nông học, Khoa học Cây trồng; cán bộ kỹ thuật và nghiên cứu viên tại các phòng thí nghiệm nuôi cấy mô thực vật, các trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp cao và các doanh nghiệp sản xuất giống hoa thương phẩm.
  • Nội dung giá trị tham khảo:
    • Quy trình chi tiết về kỹ thuật khử trùng các loại mẫu cấy phức tạp của hoa phong lan (quả lan kín và đoạn ngồng hoa mang mắt ngủ).
    • Phương pháp thao tác và bố trí thí nghiệm cắt lát mỏng mô thực vật (thin cell layer) nhằm nâng cao hệ số nhân giống ở lan Hồ Điệp.
    • Bộ dữ liệu định lượng và phương pháp phân tích thống kê nông học (ANOVA, LSD, CV%) đánh giá tác động đơn lẻ và tương tác của Kinetin và 2,4-D lên quá trình hình thành protocorm.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống lan Hồ Điệp được sử dụng trong khóa luận là giống nào và có đặc điểm gì?

Khóa luận sử dụng giống lan Hồ Điệp hoa tím đậm nhập nội có tên khoa học là Phalaenopsis Tai-Lin Red Angel (ký hiệu tại phòng thí nghiệm là giống 34902), được cung cấp bởi Trạm thực nghiệm Sinh học Công nghệ cao Văn Giang – Hưng Yên thuộc Viện Di truyền Nông nghiệp.

2. Nguồn mẫu cấy sinh dưỡng nào cho hiệu quả tái sinh chồi và protocorm ban đầu cao nhất?

Mắt ngủ từ ngồng hoa non (chưa nở hoa) là nguồn mẫu sinh dưỡng tốt nhất, cho tỷ lệ phát sinh hình thái đạt 23,0%, tỷ lệ tạo chồi đạt 14,0%, tỷ lệ tạo protocorm đạt 9,0% với chất lượng chồi to và đồng đều, vượt trội hơn so với mắt ngủ ngồng hoa già và đỉnh ngọn cành hoa.

3. Nồng độ Kinetin và 2,4-D đơn lẻ tối ưu cho sự phát sinh hình thái của lát mỏng mô là bao nhiêu?

Nồng độ Kinetin đơn lẻ tối ưu là 3,0 mg/l (tỷ lệ phát sinh hình thái 23,33%, tạo chồi 10,0%, tạo protocorm 13,33%). Nồng độ 2,4-D đơn lẻ tối ưu là 0,5 mg/l (tỷ lệ phát sinh hình thái 21,67%, tạo chồi 8,33%, tạo protocorm 13,33%).

4. Công thức môi trường phối hợp nào cho tỷ lệ tạo protocorm từ lát mỏng cao nhất?

Tổ hợp môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l 2,4-D kết hợp với 0,3 mg/l Kinetin (cùng 150 g/l khoai tây, 2 g/l than hoạt tính, 30 g/l đường, 3,5 g/l agar, pH 5,8) cho hiệu quả tối ưu nhất với tỷ lệ phát sinh hình thái đạt 24,0%, tỷ lệ tạo protocorm đạt 18,0%, protocorm to, xanh và đồng đều.

5. Nguồn mẫu cắt lát mỏng nào mang lại khả năng nhân nhanh protocorm tốt nhất?

Lát mỏng có kích thước 0,2 x 0,2 cm cắt từ thể protocorm mới hình thành cho hiệu quả cao nhất với tỷ lệ phát sinh hình thái 24,67%, tỷ lệ tạo protocorm 19,67% và số lượng thể giống đạt trung bình 3,18 protocorm/mẫu; trong khi lát mỏng từ phát hoa hoặc đỉnh cành hoa không phát sinh hình thái (0%).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Thị Thủy đã xác định được nguồn vật liệu khởi đầu thích hợp cho nhân giống lan Hồ Điệp Phalaenopsis Tai-Lin Red Angel là quả lan xanh 100 – 120 ngày tuổi và mắt ngủ từ ngồng hoa non. Nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của kỹ thuật cắt lát mỏng mô từ thể protocorm mới hình thành trong việc nâng cao khả năng phát sinh hình thái và hệ số nhân thể giống. Đồng thời, công trình đã xác lập được các công thức môi trường nuôi cấy MS bổ sung Kinetin 3 mg/l, 2,4-D 0,5 mg/l hoặc phối hợp 0,5 mg/l 2,4-D + 0,3 mg/l Kinetin làm cơ sở kỹ thuật phục vụ quy trình sản xuất giống hoa lan in vitro.