CHƯƠNG 1: KỸ NĂNG NGHE – HIỂU 11 1. Kỹ năng nghe – hiểu là gì? 1. Định nghĩa • Nghe là quá trình tiếp nhận, mã hóa các tín hiệu ngôn ngữ dưới dạng âm thanh phát ra với tư cách là yếu tố có nghĩa. Hiểu là quá trình giải mã các thông tin vừa được tiếp nhận.
Mối liên kết giữa nghe và hiểu chính là việc ghi nhớ và lưu trữ thông tin.1 • Theo Wolvin và Coakley (1985) định nghĩa: “Nghe là quá trình cơ quan thính giác tiếp nhận, xử lý và xác định được thông tin của lời nói”. • Nguyễn Văn Đạm, trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” (1997) cũng đưa ra định nghĩa về việc nghe như sau: “Nghe là một quá trình trong đó thính giác tiếp nhận những âm thanh bên ngoài và chuyển nó tới hệ thống thần kinh trung ương. Tại đây, những âm thanh này được phân tích, chuyển thành những tín hiệu và được truyền đến các giác quan giúp hình thành những phản xạ của con người đối với những âm thanh đó”. • Cả 2 định nghĩa trên đều cho thấy nghe hiểu là 1 kỹ năng giải quyết vấn đề phức tạp.
Nhiệm vụ của nghe hiểu không chỉ là tiếp nhận âm thanh mà còn đòi hỏi sự phân tích và xác định được thông điệp của lời nói. Các bước của quá trình nghe: - Nghe là một kỹ năng cần có sự chủ động của đối tượng thực hiện. Quá trình nghe thành công bao gồm 4 bước chính: Lắng nghe – Hiểu nghĩa – Đánh giá – Phản hồi. Và được diễn ra theo sơ đồ sau: Nghe Hiểu Đánh giá Phản hồi Sơ đồ 1.2: Các bước của quá trình nghe 12 - Nói như vậy có nghĩa là nghe không chỉ là một hành động đơn thuần, mà nghe là cả 1 quá trình.
Dù là trong giao tiếp hay trong việc học ngoại ngữ, khi bạn nói cần có người nghe, nhưng một người chỉ nghe thì chưa đủ, cần có sự đáp lại cho những gì bạn nói. Đó gọi là “phản hồi”. *Các dạng bài nghe: • Nghe lấy ý chính. • Nghe và ghi nhanh.
• Nghe và đoán nghĩa từ mới. • Nghe và đoán chuyện gì sắp được nói tiếp. • Nghe và luyện tốc độ. • Nghe và tập dịch bài nói chuyện của các bạn cùng lớp.
*Các giai đoạn của kỹ năng nghe hiểu tiếng Nhật. Để đạt được trình độ nghe độ nghe tốt là cần cả một quá trình rèn luyện, trau dồi, cho nên quá trình nghe hiểu tiếng Nhật trải qua nhiều giai đoạn khác nhau: Giai đoạn 1: Nghe luyện cách khu biệt âm. Nhận diện – chọn lọc chưa ghi nhớ. Giai đoạn 2: Nhận diện chọn lọc – ghi nhớ tạm thời.
Giai đoạn 3: Luyện kỹ năng nghe các loại thông tin. Giai đoạn 4: Nghe ở mức cao, nghe nhiều loại thông tin hơn, những thông tin đa dạng về thể loại, về nhiều khía cạnh đời sống, xã hội, văn hóa, kinh tế… 2. Tầm quan trọng của kỹ năng nghe – hiểu: Nâng cao khả năng giao tiếp, làm giàu thêm vốn từ vựng và sự hiểu biết. Thu thập được nhiều thông tin và tương tác qua lại trong quá trình giao tiếp.
Tạo được sự đồng điệu, liên kết hài hòa, mối quan hệ tốt dẹp giữa người với người khi đặt trong mối quan hệ tập thể và cộng đồng. Thể hiện được những thế mạnh của mình, phát hiện ra những tính cách mới. 13 Thuận lợi cho việc phát triển công việc cũng như các mối quan hệ xã hội. *Tầm quan trọng của kỹ năng nghe hiểu tiếng Nhật: Nghe quen với ngữ điệu, tốc độ nói của người bản xứ => Cải thiện kỹ năng nói.
Nghe chính xác cải thiện ngữ pháp, tốc độ nhận biết và xử lí thông tin. Giúp nâng cao phát âm và giao tiếp trôi chảy, nhuần nhuyễn. Thực trạng: Trong bốn kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng nghe - hiểu được coi là kỹ năng khó nhất đối với người học tiếng, đặc biệt là sinh viên tại các trường đại học và cao đẳng hiện nay. Thời gian thực hành nghe trên lớp còn hạn chế, thời lượng dành cho việc tự học của sinh viên lại càng ít hơn, rất ít sinh viên thừa nhận có luyện nghe thêm ở ký túc xá hoặc ở nhà khoảng 1 giờ đến 2 giờ/tuần.
Một điều đáng lo ngại khác là hầu hết sinh viên đọc phần ghi lại lời băng qua phần hướng dẫn trước khi thực hiện kỹ năng nghe, hay chỉ nghe những gì bài cần chứ không mang ý nghĩa luyện tập nâng cao kỹ năng. Vì vậy, đó là một thói quen không tốt tạo cho quá trình nghe - hiểu không đáp ứng đúng yêu cầu, mục đích và có thể lãng phí thời gian. Bên cạnh đó, tâm lý mỗi sinh viên đều mong muốn nghe và nhớ được 100% thông tin và hiểu bằng tiếng Việt từng câu từng chữ mà không xác định được nội dung trọng tâm, không nắm bắt được thông tin cốt lõi trong quá trình nghe. Chính vì vậy làm cho người học mệt mỏi và có biểu hiện lo sợ trong giờ học nghe.
Mặt khác, trong lớp cả thầy và trò đều không phải là người bản xứ, sinh viên ít có điều kiện nghe đúng tiếng Nhật bản xứ dẫn đến sinh viên phản ứng chậm mỗi khi được đặt vào các tình huống giao tiếp cụ thể. Một số sinh viên có thái độ học tập thụ động và ỷ lại trong những giờ học và rèn luyện kỹ năng nghe vì bản thân họ chưa thật sự nhận thức rõ tầm quan trọng của kỹ năng nghe. Thuận lợi: • Theo thống kê năm 2019 về số lượng người Nhật Bản tại nước ngoài đươc bộ ngoại giao Nhật Bản mới công bố, số lượng người Nhật Bản sinh sống và làm việc tại Việt Nam đã tăng mạnh so với những năm trước (đăng trên báo GD&TĐ). • Theo thống kê này, tính đến ngày 01/10/2018, số người Nhật Bản tại Việt Nam là 22.125 người, tăng 28,1% so với con số thống kê trong năm 2017.
Tỷ lệ tăng trưởng này là lớn nhất tại khu vực châu Á cũng như trên toàn thế giới (chỉ tính những nước có từ 150 người Nhật Bản trở lên). • Theo phân loại theo quốc gia và vùng lãnh thổ, số lượng người Nhật Bản tại Việt Nam đông thứ 14 trên thế giới, vượt qua Indonesia và New Zealand để tăng 2 bậc so với vị trí thứ 16 trong năm 2017. Tính trung bình hàng năm, số lượng người Nhật Bản tại Việt Nam tăng khoảng 4.859 người, đứng thứ 2 chỉ sau Mỹ với 20. • Theo phân loại theo các thành phố, thành phố Hồ Chí Minh có số người Nhật đông nhất tại Việt Nam, với 11.581 người, tăng 30,6% và đứng ở vị trí thứ 22 trong tổng số các thành phố lớn trên thế giới.
Trong khi đó, số người Nhật ở thành phố Hà Nội là 7.752 người, tăng 24,3% và đứng ở vị trí thứ 31. Hầu hết người Nhật Bản sinh sống tập trung ở 2 thành phố lớn trên với tỷ lệ 87,4% trong tổng số người Nhật tại Việt Nam. • Thống kê trên được tính toán dựa trên số liệu quản lý của các cơ quan đại diện ngoại giao chính thức của Nhật Bản tại nước ngoài. Tính tổng cộng, hiện có 1,39 triệu người Nhật Bản đang có sống bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản, tăng 2,8% so với năm 2017 và là tỷ lệ tăng mạnh nhất kể từ năm 1968, thời điểm Bộ Ngoại giao Nhật Bản bắt đầu tiến hành thống kê.
• Làn sóng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam không ngừng tăng cả về số lượng doanh nghiệp và vốn đầu tư. Cụ thể, năm 2018, Nhật Bản dẫn đầu các quốc gia đầu tư vào Việt Nam với 8,59 tỷ USD, chiếm 24,2% tổng vốn đầu tư trong số 112 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.3: Tỉ trọng FDI của những đối tác đầu tư vào Việt Nam • Tính đến cuối năm 2019, hơn 2.000 doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư ở Việt Nam và dòng vốn FDI từ Nhật Bản vẫn tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. • Đối với Đại học Hà Nội: Có khoảng hơn 70 du học sinh và giảng viên là người Nhật Bản sang học tập và làm việc. Hằng năm trường tổ chức nhiều buổi giao lưu, trao đổi giữa sinh viên hai nước cùng nhiều hoạt động để quảng bá nền văn hóa của xứ sở hoa anh đào.4: Tuần lễ văn hóa Nhật Bản diễn ra tại Trường Đại học Hà Nộ 16 5.
Khó khăn: Khó khăn lớn nhất đối với người học tiếng Nhật không phải là nói, viết hay đọc mà chính là nghe hiểu. Khó khăn này không chỉ đối với sinh viên mới bắt đầu học, tiếp xúc với tiếng Nhật mà ngay cả đối với sinh viên năm thứ 2, thứ 3, thứ 4. Cụ thể là: • Tiếng Nhật phối hợp ba bảng chữ cái chữ: Hán tự (Kanji), Hiragana, Katakana.5: Bảng chữ cái Hiragana và Katakana Hình 1.6: Một vài Kanji trình độ N5 17 • Nhiều từ phát âm giống nhau gây hiểu nhầm cho người nghe. おばさん (cô, dì) ~ おばあさん (bà) 2.
おじさん (chú, bác) ~ おじいさん (ông) 3. ゆき (tuyết) ~ ゆうき (sự can đảm) • Không nhận ra các âm tiếng Nhật: Ra Ri Ru Re Ro (ら・り・る・れ・ろ) là những âm thuộc hàng Ra. Tuy nhiên, trong tiếng Nhật, nó không đọc thành L (lờ) cùng không đọc thành R (rờ) mà phát âm của nó nằm giữa 2 âm này. • Vốn từ vựng còn hạn hẹp.
• Có thói quen phải hiểu được tất cả các từ trong câu mới hiểu được nội dung của bài. • Không thể hiểu được khi nghe người Nhật nói nhanh một cách tự nhiên. • Cần phải nghe nhiều lần mới có thể hiểu được. • Thấy khó có thể nắm bắt các thông tin và không dự đoán được điều mà người nói sắp nói.
• Nếu phải nghe kéo dài người nghe sẽ cảm thấy mệt mỏi khó tập trung. • Sự khác biệt về vùng miền gây nhiều khó khăn cho người nghe. Kansai Tokyo Tiếng Việt ちゃう 違う Khác nhau あかん ダメ Không được! めっちゃ とっても Rất 18 • Do không hiểu được những điều mà người ta nói với mình gây ra căng thẳng, mất tự tin, lúng túng. • Khó khăn khi gặp bài tập nghe: tâm lí, không nắm rõ được nội dung hội thoại, nghe bị khuyết đầu hoặc cuối, nghe và tập trung suy nghĩ về từ vựng không biết dẫn đến quên nội dung.
Nguyên nhân: *Nguyên nhân chủ quan: Không chủ động trau dồi vốn từ vựng và cấu trúc ngữ pháp. Không tự giác trong việc học. Không xác định được động lực học, tầm quan trọng của kỹ năng nghe. Thiếu tập trung khi nghe.
Phát âm không chuẩn. Không có phương pháp học hợp lí. Thiếu kiến thức văn hóa của người bản xứ. Tư duy tiếng Việt.
Tâm lí sợ nghe. Cơ quan thính giác không tốt.