CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CƠ CHE PHÁT TRIEN SẠCH VA KINH TE HỌC TRONG MUA BAN KHÍ CO; 1.1, Tinh hình phát thải CO; trên thế giớ và lới thiệu cơ chế phát triển sạch (CDM) 1. Tình hình phát thải CÓ; trong béi cảnh phát trién kinh tế: ‘Theo Burfurd (2012: 4) thì việc phát triển kinh tế trên thé giới có „ đề". Ở đây tác giả đã chỉ ra mối tương quan khá chặt giữa yếu tổ thu nhập. người (trục X) và phát thai CO; đầu người (trục Y) của (Hình 1.
‘quan giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải thì rất tổng hợp. Đó lả một hàm số của số dan, mức sống của người dân và tinh trạng công nghệ (sản xuất). Trong ba thập niên cuối của thé ky 20, người ta đã lượng và phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính chủ y tăng trưởng dân số. Những yếu tổ này đã vượt trội hiệu ứng của giảm phát thải của sản xuất, chính vì vậy mà lượng khí phát thải toàn cỷ tiếp tục tăng.) có thể hiện chuỗi quan trắc phát thải CO; của một số.
quốc gia lựa chọn trong giai đoạn 1960-2008, trong đó có Việt Nam. Tương quan giữ thu nhập và phát thải CO; đầu người Xã thái CO2 đầu người, 1960-2008, lựa chọn các quốc gla sổ thu nhập, z Brea i —em 2. cia 3) aay 2, thailand o —meea 83š§šSS5š385588§§ Hình 1. Xu thé phát thải CO; đầu người của một số quốc gia trong giai đoạn 1960-2008 Trong hình tiếp theo cho thấy GDP đầu người của một số quốc gia được lựa chọn, tiếp tue tăng trong giai đoạn 1980-2010 mặc đù các cuộc khủng khoảng kinh tế khu vực như khủng khoảng tài chính ở châu Á năm.
1997-1998, rồi khủng khoảng kinh tế ở Hoa Kỳ 2008-2009. Qua đó có thể thấy, nền kinh tế toàn cầu và của các quốc gia tiếp tục tăng, kéo theo sự gia tăng phát thải CO; cũng như các khí gây hiệu ứng nhà kính. pre đm= §me ˆ Ngin Tà iu của WH Đặc biệt cần phải lưu ý trong (Hình 1.) là xu thé phát thải CO; của các nước dang phát triển đã đuôi kip các nước phát triển và trong thế kỷ 21 sẽ. tăng lên không ngừng nếu như không có biện pháp can thiệp hiệu quả.
© ác nước dang phát tiên (non annex B) dể io 0 co mm Hình 1. Phát thai CO; của các quốc gia phát triển và đang phát triển (1990 đến 2010) Tir năm 1997 sự gia tăng lượng khí thải toàn cầu đã tăng nhanh hơn dự đoán của tổ chức IPCC theo kịch bản „phát triển như bình thưởng”, đó là tăng trưởng phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Việc mở rộng và tăng trưởng kinh tủa các quốc gia có thu nhập trung bình thi di đôi với việc tăng manh trong phat thải khí nhà kính. Điều này phản ánh cường độ carbon của việc cung cấp năng lượng ở nhiều quốc gia có thu nhập trung bình, và cũng do một số lĩnh.
vực tăng trưởng. Từ năm 2009, các quốc gia không nằm ở phụ lục 1 của Nghị định thư Kyoto đã tạo ra phan lớn lượng khí thải của th gi. Khủng hoảng tài chính toàn cầu và chính sách giảm thiểu khiến việc phát thai của các quốc gia của phụ lục 1 có lượng khí thải thấp hơn so với mức của năm 1990, tuy nhiên lượng khí thải đầu người ở các quốc gia này vẫn cao hơn mức độ phù. hợp để đạt mục tiêu không tăng thêm 2°C vào cuối năm 2100.
Giới thiệu cơ chế phát trién sạch (CDM) ở trên thé giới Đứng trước tình trạng 6 nhiễm môi trường và phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính gia tăng như phần trên đã nêu thi các tô chức thé giới đã họp. ban và đưa ra rất nhiều các đạo luật, nghị định, thông điệp. về bảo vệ môi trường. Trong đó có Nghị định thư Kyoto.
Nghị định thư Kyoto được 159 quốc gia ký vào năm 1997 tại Kyoto (Nhật Bản) với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải didxit cácbon và các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm khí hậu trái đất nóng lên, Tính đến nay tháng 4 năm 2013 thi đã có 191 quốc gia tham gia Nghị định thư Kyoto và chính phủ Hoa Kỳ vẫn chưa tham gia ký kết Co chế phát triển sạch (CDM) là một trong ba cơ chế được đưa ra trong, Nghị định thư Kyoto, với mục tiêu cắt giảm lượng khí thai điöxít cácbon và các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm khí hậu trái đất nóng lên. Đó là: (i) Mua bán quyền phát thải quốc tế (ii) Đồng thực hiện (iii) Cơ chế phát triển sạch. Co chế phát triển sạch, quy định tại Điều 12 của Nghị định thư, cho phép một nước có lượng khí thai lớn hơn giới hạn cam kết theo Nghị định thư. Kyoto thì có thể thực hiện một dự án giảm phát thải ở các nước đang phát triển.
Dự án như vậy có thé bán chứng nhận (CERs) giảm phát thải dé được khoản tin dụng tương đương với một tấn CO,, được tính vào đáp ting các mục tiêu của Nghị định thư Kyoto. Cơ chế CDM được coi là một tiên phong. Chương trình tín dụng của loại hình này mang tính toàn cầu, là môi trường đầu tư đầu tiên, nó cung cấp một lượng khí thải tiêu chuẩn tương ứng với CERs, Một hoạt động dự án CDM có thể gồm: - Dự án điện khí hóa nông thôn sử dụng các tắm năng lượng mặt trời ~ Lắp đặt nồi hơi tiết kiệm năng lượng hơn. ~ Dự án các nhà máy thủy điện qui mô lớn - Dự án các nhà máy thủy điện qui mô nhỏ.
- Dự án trồng rừng Cơ chế CDM khuyến khích sự phát triển bền vững và các mục tiêu giảm phát thải bằng cách tạo sự linh hoạt cho các nước công nghiệp khi giảm phát thải của mình. Như vậy cơ chế CDM mang tính hợp tác quốc tế trong. lĩnh vực môi trường giữa các quốc gia trên thể giới. Hiện nay vấn dé ô nhiễm.
môi trường là vấn đề được quan tâm hang đầu của cộng đồng thế giới va CDM trở thành một công cụ tích cực giúp các quốc gia trên thé giới cùng nhau triển khai các chính sách về môi trường của quốc gia mình theo Nghị định thư Kyoto. CDM cho phép các quốc gia đang phát triển được nhận hỗ trợ kỉnh phí cho phát triển bền vững từ các nước. phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Châu Âu cho các dự án giảm phát thai khí nhà kính thông qua CERs. Phát thải khí nhà kính là phát thai các khí gây biến đổi khí hậu bị kiếm xoát bởi Nghị định thư Kyoto gồm: CO;, CHụ, N20, HFCs, PFCs, SF6 và các loại khí khác được quy định trong Nghị định thư Kyoto.
(Cae nước phát triển có thé mua các CERs này để đưa vào chỉ tiêu giảm phát thải. Các cơ sở công nghiệp của các quốc gia phát triển có phát thải khí gay hiệu ứng nhà kính thì phải bỏ chỉ phí dé làm một trong những việc: (0) Nộp thuế phát thải khí nhà kính, (ii) Cải tạo thiết bị dé giảm phát thải khí nhà kính, (iii) Mua các giấy phép phát thải CERs. Trong đó thì chỉ phí bỏ ra để mua CERs thường được đánh giá là rẻ. Hiện việc mua bán CERs được đấu giá qua mang internet.
Ví dụ như các cơ sở công nghiệp của các nước phát triển đang phát thải khí nhà kính sẽ phải chịu thuế môi trường cho việc giảm 5.2% khí nhà kính với chỉ phí rit cao. Nếu các cơ sở công nghiệp này mua được CERs với mức giá thấp hơn hoặc bằng mức cắt giả m 5,29 của cơ s ở công, nghiệp thì cơ sở này không phải nộ pthuế. Tóm lại, hai mục tiêu chính của CDM hà: ~ Hỗ trợ các quốc gia đang phát triển có thể nhận được các nguồn đầu tư mới từ nước các quốc gia phát triển và tiếp nhận được các công nghệ kỹ: thuật cao, thân thiện với môi trường, góp phần đạt được phát triển kinh tế xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ thống khí hậu toàn cau. ~ Tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia phát triển đạt được mục tiêu.
giảm phát thải khí nhà kính của các cơ sở công nghiệp của mình thông qua các dự án CDM triển khai tại các quốc gia đang phát triển. Kinh tế học trong mua bán chất xả thải Mua bán giấy phép xả thải là một cách p cận đạt hiệu quả về chỉ phí và định hướng thị trường để giảm phát thải khí nhà kính. Mục tiêu chính của mua bán giấy phép xả thai là: (i) Đạt mục tiêu giảm phát thải, và (ii) Chỉ phí thấp nhất cỏ thé cho mục tiêu giảm phát thải. Gia sử một chính phủ bắt đầu bằng việc quyết định bao nhiêu tắn khít gây hiệu ứng nhà kính có thể được phát thải hàng năm.
Sau đó tinh đổi lượng phát thải này ra đơn vị phát thải chuẩn, ví dụ tấn CO, tương đương - và sau đó phân bé cho từng công ty, doanh nghiệp, công nghiệp. Điều này cho phép mỗi công ty có một han ngạch khí thải nhà kính mà cl có thể được phát thải trong một khoảng thời gian đã định. Sau đó thì hình thành thị trường mua và bán giấy phép xả thải khi có công ty hay doanh nghiệp vượt quá phép và việc. giảm xả thải đắt hơn 1i đi mua.
Trong khi đó có công ty hay doanh nghiệp thì có khả năng giảm phát thải rẻ thì có thé bán. Sau đây xin giải thích vẻ mặt kinh tế học an ding sau việc mua bán. chất xa thai qua ví dy sau. Có hai quốc gia tham gia mua bán giấy xả thải là: ~ Quốc gia 1 (CL) - Quốc gia 2 (C2) Hai quốc gia có tổng số CO; phát ra là 30 tin CO; ~ Quốc gia 1 phát ra 15 tấn CO; - Quốc gia2 phát ra 15 tấn CO; “Theo Nghị định thư Kyoto cho phép hai quốc gia được phát thải 15 tấn CO;.
Tit cả các quốc gia đều phải có giấy phép xả thải. Mỗi giấy phép cho phép một quốc gia xả 1 tan CO;. Số lượng giấy phép của mỗi quốc gia xác. định lượng chất thải được phát ra của một quốc gia.
Các giấy phép có thể chuyển nhượng (mua và bán). Bat kỳ phát thải của một quốc gia nào vượt quá mức cho phép theo giấy phép của nó sẽ phải giảm bớt và kiểm soát trong. Một quốc gia có thé đáp ứng nghị định thư Kyoto bằng cách Kiểm soát lượng khí thải hoặc mua bán giấy phép phát thải. Mỗi quốc gia sẽ được giao.
giấy phép: Giấy phép = lượng khí thải hiện tại — lượng yêu cầu giảm.