CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới 1.1 Các khái niệm liên quan PCM Một số khái niệm liên quan đến đo tính và giám sát carbon rừng, PCM được thống nhất như sau: Carbon rừng: Được hiểu là lượng carbon tích lũy trong hệ sinh thái rừng, nằm trong 5 bể chứa theo IPCC (2006) [52], bao gồm trong thực vật rừng trên mặt đất, thực vật rừng dưới mặt đất (rễ cây), gỗ chết, thảm mục và carbon hữu cơ trong đất (SOC). Giám sát carbon rừng: Cung cấp thường xuyên thay đổi diện tích (bằng ảnh viễn thảm ở quy mô lớn và dữ liệu mặt đất ở quy mô nhỏ) và các bể chứa carbon rừng dựa vào các hoạt động nhằm giảm phát thải từ REDD+; trong đó cộng đồng và các bên liên quan cần được tham gia vào giám sát carbon rừng (Gerrand, UN-REDD, 2014 [38]). Sinh khối trên và dưới mặt đất: Là sinh khối ở thực vật rừng nằm trên và dưới mặt đất của rừng (IPCC, 2006). Thực vật rừng nói chung lại bao gồm nhiều dạng sống khác nhau như cây gỗ, cây bụi, dây leo, thảm tươi,.
do đó chúng được xác định bằng các phương pháp khác nhau. Trong đó sinh khối cây gỗ là quan trọng nhất vì có khối lượng lớn nhất, gồm sinh khối cây gỗ phần trên mặt đất (AGB), sinh khối của rễ cây dưới mặt đất (BGB); AGB và BGB được ước lượng thông qua các mô hình sinh trắc (Huy et al, 2016a,b,c [47, 49, 50]).2 Vai trò, vị trí của giám sát carbon rừng có sự tham gia của cộng đồng trong hệ thống giám sát rừng quốc gia và chương trình REDD i) Hệ thống giám sát rừng quốc gia và giám sát carbon rừng có sự tham gia của cộng đồng 6 Vickers (2014) [96] đã giới thiệu rõ ràng về vai trò của giám sát rừng có sự tham gia (Participatory Forest Monitoring - PFM) trong hệ thống giám sát tài nguyên rừng quốc gia (National Forest Monitoring Systems - NFMS). Gerrand (2014) [38] đã sơ đồ hóa vai trò và vị trí của cộng đồng trong hệ thống giám sát rừng quốc gia ở Hình 1.1 bên dưới đây. HỆ THỐNG GIÁM SÁT RỪNG QUỐC GIA (NFMS) GIÁM SÁT MRV Hệ thống giám sát rừng bằng vệ tinh Trang web Điều tra rừng quốc gia (NFI) Thẩm định thay Giám sát và báo Giám sát của cộng đổi diện tích rừng cáo hoạt động đồng Điều tra khí nhà quốc gia (Dữ liệu của REDD+ kính hoạt động – AD) Giám sát khác liên quan đến rừng Hình 1.1: Hệ thống giám sát rừng quốc gia và đóng góp của giám sát rừng có sự tham gia của cộng đồng (Gerrand, UN-REDD, 2014) Như vậy với khung khái niệm mới này làm rõ Giám sát (M: Monitoring) với Đo lường (M: Measurement) trong MRV.
Ở những quốc gia tham gia chương trình REDD, hệ thống giám sát rừng quốc gia gồm có điều tra kiểm kê rừng và điều tra, báo cáo phát thải khí nhà kính; bao gồm hai nhóm như sau: - MRV: Cung cấp thay đổi diện tích rừng qua ảnh viễn thám; thay đổi tài nguyên rừng qua điều tra – kiểm kê rừng và báo cáo khí nhà kính từ lâm nghiệp. - Giám sát: Cũng cung cấp thay đổi diện tích dựa vào ảnh viễn thám nhưng được làm thường xuyên dựa vào các hoạt động nhằm giảm phát thải từ REDD+; cộng đồng tham gia vào giám sát, thông tin tài nguyên rừng, phát thải được cập nhật trên website. 7 Trong đó PFM/PCM sẽ tham gia chủ yếu vào giám sát tài nguyên rừng ở cấp cơ sở và đóng góp cho hệ thống giám sát tài nguyên rừng quốc gia. ii) Hệ thống MRV trong chương trình REDD và giám sát carbon rừng có sự tham gia của cộng đồng Vickers (2014) [96] đã xác định với các quy ước, thỏa thuận quốc tế hiện có, không có gì ngăn cản cộng đồng có một vai trò trong MRV của chương trình REDD ở cấp quốc gia.
Để theo dõi sự phát thải hay hấp thụ CO2 từ rừng, khái niệm MRV được sử dụng (M: Measurement, R: Reporting, V: Verification). Nó bao gồm việc đo lường phát thải/hấp thụ khí nhà kính từ rừng (M), báo cáo lượng phát thải/hấp thụ (R); và cuối cùng dữ liệu này được thẩm định độ tin cậy (V). Bản đồ thay đổi sử dụng rừng, trạng thái rừng được xây dựng theo định kỳ song song với xác định lượng phát thải để làm cơ sở cho việc tính tổng lượng phát thải hay hấp thụ cho từng chủ rừng, khu vực và quốc gia. Trong đó ảnh viễn thám và sự tham gia của cộng đồng được tiến hành (Vikers, 2014 [96]).
o Emission Factor: Phát thải CO2 trên đơn vị diện tích, đối tượng, trạng thái rừng và đất lâm nghiệp. Trên từng đơn vị rừng/đất rừng định kỳ xác định lượng carbon phát thải do suy thoái và mất rừng thông qua điều tra ô mẫu trên mặt đất kết hợp với sử dụng các mô hình sinh trắc ước tính carbon hoặc dự báo qua ảnh vệ tinh. Hướng dẫn thiết lập mô hình sinh trắc đã được xây dựng rộng rãi (Dietz et al., 2011 [32]; Villamor et al., (2010) [97]; Johannes và Shem, 2011 [58]; Pearson et al., 2007 [64]; 8 Picard et al., 2012 [67]; Silva et al. Nhiều mô hình ước tính sinh khối trên mặt đất đã được thiết lập, đặc biệt là cho vùng nhiệt đới (pantropic) (Basuki et al., 2009 [16]; Brown, 2002, 1997 [20, 19]; Chave et al., 2005, 2014 [27, 28]; Ketterings et al.
Dự báo lượng CO2 phát thải từ quản lý rừng, bao gồm tích số giữa lượng phát thải trên đơn vị diện tích trạng thái × diện tích các trạng thái. Chuyên gia của UNFCCC sẽ thẩm định dữ liệu phát thải mà mỗi khu vực, quốc gia báo cáo. Nội dung thẩm định bao gồm thay đổi diện tích/trạng thái rừng và lượng phát thải/hấp thụ trên từng đơn vị diện tích. Ngoài ra trong thực tế thực hiện REDD+ còn xuất hiện khái niệm Giám sát (M: Monitoring) để đóng góp cho hệ thống MRV.
Có nghĩa MRV là hệ thống dữ liệu phát thải theo định kỳ kiểm kê khí nhà kính, tuy nhiên việc sử dụng, tác động vào rừng diễn ra thường xuyên, vì vậy cần có giám sát.2 minh họa nội dung thực hiện MRV để ước tính lượng phát thải khí nhà kính từ rừng (UN-REDD Việt Nam, 2011 [94]). 9 M: ĐO LƯỜNG R: BÁO CÁO Phát thải/hấp Thay đổi diện thụ Báo cáo khí nhà kính tích rừng Emission GHGs Report Activity Data Factors V: THẨM ĐỊNH Ban thư ký UNFCCC Chuyên gia độc lập Hình 1.2: MRV theo IPCC (Tác giả biên tập lại dựa vào nguồn của UN-REDD Việt Nam, 2011) Nhiều báo cáo, nghiên cứu đã khẳng định cộng đồng đã sẵn sàng, đang và sẽ tham gia có hiệu quả trong MRV cũng như giám sát rừng/carbon rừng thường xuyên. Công việc này là phù hợp với cộng đồng vì sự am hiểu thực tế của họ và chi phí cho giám sát rất thấp nếu so với các đoàn điều tra rừng chuyên nghiệp (Guarin et al., 2014 [40]; Huy, 2011a,b [44, 45]; Huy et al., 2013 [48]; Paudel, 2014 [63]; Poudel et al., 2014 [70]; Scheyvens et al., 2012 [72]; Skutsch, 2011 [78]; Skutsch et al., 2009a,b [79, 80]; RECOFTC, 2010 [90]; Thomas et al. Đặc biệt là để bảo đảm tính minh bạch của MRV thì sự tham gia của các bên liên quan là rất quan trọng, trong đó sự tham gia của cộng đồng cần được tổ chức và ưu tiên (UNFCCC, 2011 [93]; UN-REDD, 2011 [94]; Vickers, 2014 [96]; Bernard và Minang, 2011 [18]).3 Quản lý rừng cộng đồng và giám sát rừng có sự tham gia của cộng đồng trong REDD Quản lý rừng cộng đồng (CFM) đã được tiến hành rộng rãi ở nhiều quốc gia như Tanzania, India, Senegal và Nepal và đã chứng minh đây là cơ sở để tiếp tục phát triển giám sát carbon rừng có sự tham gia của cộng đồng và cần xem đây là con đường hiệu quả để giảm suy thoái rừng (Skutsch et al.
Sikor et al., (2013) [75] cho thấy rằng chương trình REDD là cơ hội quan trọng để thúc đẩy phát triển phương thức quản lý rừng cộng đồng ở Châu Á Thái Bình Dương. Nepal là quốc gia hàng đầu trong các nước đang phát triển đã xây dựng và thực hiện quản lý rừng có hiệu quả từ những năm 1980.000 nhóm sử dụng rừng ở nước này quản lý hơn 1,7 triệu ha rừng, chiếm 30% diện tích rừng cả nước (Poudel et al. Trên cơ sở kinh nghiệm giám sát rừng theo nhóm sử dụng rừng, với nhiều hướng dẫn đo tính giám sát rừng trong quản lý rừng theo nhóm sử dụng rừng, Nepal đã lần đầu tiên xây dựng các hướng dẫn đo tính, giám sát carbon rừng có sự tham gia của người dân, cộng đồng (Subedi et al. Đề xuất kết hợp quản lý rừng với sự giám sát và quyền quyết định của người dân địa phương có thể giúp quản lý rừng bền vững.
Hơn nữa, nhiều quốc gia đã lựa chọn quản lý rừng cộng đồng là một phần trung tâm của kế hoạch REDD+ của họ. Đồng thời, REDD+ có thể cải thiện cơ hội thành công cho CFM (Angelsen, 2009 [14]). Hiện nay đã có mối quan tâm đáng kể liên quan đến quyền lợi của cộng đồng khi tham gia REDD+ nhưng đồng thời cũng có những e ngại rằng một số cộng đồng có thể mất quyền tiếp cận rừng cho sinh kế của họ nếu như tín chỉ carbon được khẳng định, bởi vì lúc bấy giờ các tổ chức lâm nghiệp khác có thể 11 sẽ can thiệp quyền quản lý những khu rừng này (Angelsen, 2009 [14]). Kajembe et al., (2012) [59] đã chỉ ra mối quan hệ giữa REDD+ để giải quyết giảm nhẹ biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế của cộng đồng.4 Mô hình ước tính sinh khối cây rừng Để ước tính sinh khối, carbon tích lũy trong hai bể chứa quan trọng là phần trên và dưới mặt đất của cây rừng, cần có các mô hình sinh trắc, đó là các mô hình quan hệ giữa sinh khối với các nhân tố điều tra cây rừng hoặc lâm phần (Brown et al., 1989, 2001 [22, 23]; Brown, 1997 [19]; Brown và Iverson, 1992 [21]; Chave et al., 2005 [27]; Picard et al.
Về biến số đầu vào của mô hình sinh trắc Biến số đầu vào quan trọng nhất của mô hình sinh khối là đường kính ngang ngực (D) (Brown et al., 1989, 2001 [22, 23]; Brown, 1997 [19]; Brown và Iverson, 1992 [21]), sau đó là khối lượng thể tích gỗ (WD), và chiều cao cây (H) (Chave et al., 2005 [27]; Basuki et al., 2009 [16]; Ketterings et al. WD dùng để chuyển đổi từ thể tích cây sang sinh khối và rất biến động ở các loài khác nhau (Picard et al., 2012 [67]; Chave et al. Khi ứng dụng mô hình, WD không thể đo đạc trực tiếp trên hiện trường mà thường được tính bình quân theo loài dựa vào cơ sở dữ liệu WD có sẵn (Fayolle et al., 2013 [35]; IPCC, 2006 [52]; Chave et al.