CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN: Trình bày về hệ thống truyền lực trên ô tô, các hệ thống nâng cao chất lượng kéo của ô tô, trình bày tổng hợp kết quả nghiên cứu về động 3 lực học hệ thống truyền lực của ô tô trên thế giới và trong nước, qua đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại trong các công trình nghiên cứu để xác định nội dung và mục tiêu luận văn cần thực hiện. XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỘNG LỰC HỌC HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC Ô TÔ CÓ KỂ ĐẾN VI SAI: Trình bày nghiên cứu cơ sở lý thuyết về xây dựng mô hình động lực học, mô hình hóa hệ thống truyền lực trên ô tô và xây dựng mô hình động lực học của hệ thống truyền lực có kể đến vi sai. ĐIỀU KHIỂN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KÉO CỦA Ô TÔ THÔNG QUA ĐIỀU KHIỂN MÔ MEN PHANH: cở sở lý thuyết về Phương pháp điều khiển PID, thiết kế bộ điều khiển PID điều khiển lực kéo của ô tô thông qua điều khiển mô men phanh, mô phỏng động lực học kéo của ô tô với bộ điều khiển thiết kế.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: Đánh giá kết quả nghiên cứu của luận văn, đề xuất hướng phát triển của các công trình nghiên cứu tiếp theo. Tổng quan về hệ thống truyền lực trên ô tô 1. Vai trò và phân loại hệ thống truyền lực 1. Lịch sử phát triển Năm 1914 đến 1980 hệ thống truyền lực ô tô chủ yếu sử dụng hộp số điều khiển bánh răng, lúc đầu là bánh răng di trượt, sau là thường xuyên ăn khớp và sau đó là dùng bộ đồng tốc.
Trong giai đoạn này người ta cố gắng tăng số cấp của hộp số lên, quan tâm đến tính bền và rung động, tính dễ điều khiển của hệ thống truyền lực và đến cuối những năm 1970 đã xuất hiện hộp số tự động. Năm 1980 đến 2000 người ta quan tâm đến tính tiêu thụ nhiên liệu và ô nhiễm môi trường, mục tiêu là tăng số lượng, tăng số của hộp số. Người ta tiếp tục quan tâm đến tính dễ điều khiển của hộp số, truyền động giai đoạn này là truyền động thuỷ cơ. Đỉnh điểm là hộp số tự động có ly hợp hóa AT Từ năm 2000 đến nay người ta tiếp tục quan tâm đến tính tiêu thụ nhiên liệu, tính ô nhiễm, tính dễ điều khiển, đặc biệt là ổn định chuyển động của ô tô ở tốc độ cao.
Hệ thống truyền động trong giai đoạn này là tự động (điện – điện tử điều khiển cơ khí) 1. Vai trò hệ thống truyền lực Hệ thống truyền lực trên ô tô đóng vai trò của bộ phận kết nối động cơ với các bánh xe chủ động, giúp cho xe có thể chuyển động trên các loại đường xá theo điều kiện sử dụng cụ thể. Về bản chất, hệ thống truyền lực là hệ thống truyền công suất của động cơ tới các bánh xe chủ động. Với công suất tối đa của động cơ là Nemax, vận tốc chuyển động của ô tô là v và hiệu suất của hệ thống truyền lực là η , thì lực kéo tại các bánh xe chủ động được tính theo công thức (1.1) Trên ô tô hiện nay, nguồn động lựcsử dụng chủ yếu là động cơ đốt trong tồn tại dưới hai dạng động cơ xăng và động cơ diesel.
Loại động cơ này có hệ số thích ứng thấp (khoảng 1.2) và dải tốc độ làm việc hẹp (xem Hình 1.1, vùng màu trắng) nên không đáp ứng được sự thay đổi lực cản chuyển động và vùng tốc độ làm việc lớn của ô tô [8]. Đặc tính kéo lý tưởng của ô tô và khả năng đáp ứng của động cơ đốt trong [8]. Trên thực tế ô tô hoạt động trên các loại đường đa dạng có hệ số cản tổng cộng thay đổi trong phạm vi rộng, dải tốc độ chuyển động của ô tô rộng. Vì vậy, lực kéo và vận tốc tại bánh xe phải luôn thay đổi để đáp ứng các điều kiện chuyển động cụ thể.
Để ô tô có thể chuyển động được trong mọi điều kiện làm việc theo yêu cầu thì cần có hệ thống truyền lực để biến đặc tính của động cơ thành đặc tính kéo của ô tô phù hợp với các điều kiện chuyển động. Phân loại hệ thống truyền lực Hệ thống truyền lực ô tô gồm các cụm tổng thành ly hợp, hộp số, trục các đăng, cầu chủ động (vi sai và bán trục) liên kết với nhau từ động cơ tới bánh xe chủ động. Nó có nhiệm vụ truyền và biến đổi mô men xoắn từ động cơ đến các bánh xe chủ động sao cho phù hợp giữa các chế độ làm việc của động cơ và mô men cản sinh ra trong quá trình ô tô chuyển động. Ngoài nhiệm vụ trên, nó còn có nhiệm vụ ngắt dòng công suất từ động cơ tới bánh xe chủ động trong thời gian ngắn hoặc dài, đổi chiều chuyển động giúp ô tô chuyển động lùi,tạo khả năng chuyển động êm dịu và thay đổi tốc độ cần thiết trên đường.
Kết cấu của hệ thống truyền lực phụ thuộc vào bố trí chung của ô tô, phổ biến là loại hệ thống truyền lực động cơ đặt trước cầu chủ động sau (Hình 1.2); động cơ đặt trước cầu chủ động trước (Hình 1.3); động cơ đặt sau cầu chủ động sau (Hình 1. Hệ thống truyền lực loại động cơ đặt trước, cầu sau chủ động Hình 1. Hệ thống truyền lực loại động cơ đặt trước, cầu trước chủ động Hình 1. Hệ thống truyền lực loại động cơ đặt sau, cầu sau chủ động Hệ thống truyền lực trên ô tô có các loại chủ yếu: - Hệ thống truyền lực cơ khí có hộp số sang số bằng tay MT (Manual Transmission): sử dụng ly hợp ma sát khô và hộp số bánh răng; - Hệ thống truyền lực tự động loại biến môsang số tự động AT (Automatic Transmission): sử dụng biến mô và hộp số hành tinh; - Hệ thống truyền lực cơ khí tự động hóa điều khiển số bằng tayAMT (Automated Manual Transmission): sử dụng ly hợp ma sát khô hoặc ướt và hộp số bánh răng, được tự động hóa điều khiển ly hợp và gài số; 7 - Hệ thống truyền lực ly hợp kép DCT (Dual Clutch Transmission): sử dụng ly hợp ma sát khô hoặc ướt 2 đĩa và hộp số bánh răng có 2 trục sơ cấp lồng nhau; - Hệ thống truyền lực vô cấp CVT (Continously Variable Transmission): sử dụng ly hợp ma sát ướt hoặc biến mô và hộp số kiểu truyền động đai có tỷ số truyền biến đổi.
Các phần tử trong hệ thống truyền lực Những bộ phận chính trong hệ thống truyền lực bao gồm: ly hợp (ly hợp ma sát, ly hợp képhoặc biến mô), hộp số (hộp số cơ khí loại bánh răng, hộp số hành tinh, CVT), hộp phân phối (nếu có), hộp số phụ (nếu có), truyền động các_đăng (truyền lực trung gian), truyền lực chính – vi sai, bán trục, truyền lực cuối cùng (nếu có) [11]. Hệ thống truyền lực cơ khí 1. Ly hợp Ly hợp là một cụm của hệ thống truyền lực nằm giữa động cơ và hộp số, nó dùng để truyền hay không truyền công suất từ động cơ đến hệ thống truyền lực, nhằm để truyền mô men quay một cách êm dịu và để cắt truyền động đến hệ thống truyền lực được nhanh chóng và dứt khoát trong những trường hợp cần thiết như khi chuyển số. Nó cũng cho phép động cơ hoạt động khi xe dừng trong trường hợp phanh gấp mà không cần chuyển hộp số về số trung gian.
Ngoài ra ly hợp còn có vai trò của khớp nối an toàn và giảm dao động xoắn của hệ thống truyền lực. Ly hợp gồm có các loại như: Ly hợp ma sát, Ly hợp kép, Biến mô. a) Ly hợp ma sát Ly hợp trên ô tô gồm có ly hợp ma sát, ly hợp thủy lực và ly hợp điện tử. Ly hợp ma sát được dùng nhiều hơn cả, gồm có loại ly hợp một đĩa hoặc hai đĩa ma sát, nó có các chức năng như tạo khả năng đóng - ngắt lực truyền từ động cơ tới bánh xe chủ động, ly hợp đảm bảo đóng ngắt êm dịu nhằm giảm tải trọng động và thực hiện trong thời gian ngắn, khi chịu tải quá lớn ly hợp đóng vai trò như một cơ cấu an toàn nhằm tránh quá 8 tải cho hệ thống truyền lực và động cơ, khi có hiện tượng cộng hưởng (rung động lớn) ly hợp có khả năng dập tắt nhằm nâng cao chất lượng truyền lực.
Loại ly hợp này có kết cấu đơn giản, việc truyền mô men thông qua các bề mặt ma sát, trên ly hợp có các bộ phận tạo nên lực ép giữa các bề mặt ma sát như phần chủ động, phần bị động của ly hợp, bộ phận tạo lực ép, bộ phận dẫn động điều khiển, lực ma sát sinh ra để truyền mô men từ phần chủ động sang phần bị động. Phần chủ động gồm bánh đà, đĩa ép, vỏ ly hợp và lò xo ép là các chi tiết lắp ghép trực tiếp hoặc gián tiếp với bánh đà của động cơ và có cùng tốc độ quay với bánh đà.Phần bị động gồm trục bị động và đĩa bị động là các chi tiết lắp ghép trực tiếp hoặc gián tiếp với trục bị động của ly hợp (trục chủ động của hộp số) và có cùng tốc độ góc với trục bị động của ly hợp. Phần dẫn động điều khiển ly hợp gồm các chi tiết điều khiển ly hợp, chúng gồm cả các chi tiết nằm trong phần chủ động như đòn mở (đồng thời là lò xo màng), bạc mở và các chi tiết điều khiển bạc mở. Bộ phận tạo lực ép gồm giá tựa (vỏ ly hợp), lò xo ép và đĩa ép.
Khi làm việc ly hợp làm việc gồm hai trạng thái: trạng thái đóng và mở. Trạng thái đóng là trạng thái thường xuyên làm việc của ly hợp, dưới tác dụng của lò xo ép thì đĩa ép, đĩa bị động và bánh đà động cơ bị ép sát vào nhau, khi đó bánh đà, đĩa bị động, đĩa ép, lò xo ép, vỏ ly hợp quay thành một khối, mô men xoắn truyền từ động cơ tới bánh đà, qua các bề mặt ma sát truyền đến moay_ơ đĩa bị động tới trục bị động (truyền mô men xoắn từ động cơ tới hộp số). Trạng thái mở là trạng thái làm việc không thường xuyên, người lái tác dụng lên cơ cấu điều khiển kéo đĩa ép di chuyển ngược chiều ép của lò xo, tách giữa các bề mặt ma sát của đĩa bị động với bánh đà và với đĩa ép, phần chủ động của ly hợp quay theo động cơ, nhưng do lực ép không tác dụng lên đĩa ép, bởi vậy không tạo nên ma sát để truyền mô men xoắn từ phần chủ động sang phần bị động.