Chương 1 đã trình bày tổng quan về quá trình sản xuất giấy, đưa ra và phân tích vấn đề tiệu thụ năng lượng trong quá trình sản xuất giấy, trong đó phần chiếm nhiều nhất về năng lượng đó chính là công đoạn sấy khô. Căn cứ vào đó đề tài đưa ra cách giải quyết của đề tài với hướng tiết kiệm năng lượng thông qua việc điều chỉnh ổn định độ ẩm của giấy sử dụng điều chỉnh áp suất hơi đưa qua van với mục đích không tạo ra quá điều chỉnh khi bơm hơi bão hòa vào lô sấy, qua đó giảm thiểu sự dao động về áp suất hơi trong lô sấy và sử dụng phương pháp Mid-ranging nhằm can thiệp vào việc điều chỉnh lượng gió đưa vào buồng sấy. Trang 18 Chương 2 ĐIỀU KHIỂN ÁP SUẤT HƠI TRONG QUÁ TRÌNH SẤY 2.1 Cấu hình của các lô sấy trong công đoạn sấy khô Cách đơn giản nhất để bốc hơi nước ra khỏi màng giấy là sử dụng nhiệt ẩn có trong hơi quá nhiệt. Sử dụng hơi quá nhiệt đưa tới các lô sấy là một phương pháp hiệu quả để sấy khô giấy, năng lượng sử dụng ở phương pháp này được chứng minh là có giá rẻ hơn ¼ so với các phương pháp khác, ngoài ra phương pháp này còn có một ưu điểm như mức độ độc hại thấp, dễ dàng vận chuyển và khả năng mang nhiệt cao.
Vì phần lớn lượng nhiệt tạo ra được tồn tại dưới dạng nhiệt ẩn cho nên lượng nhiệt lớn có thể truyền một cách hiệu quả tại một nhiệt độ bằng hằng số nào đó, đây là một phương thức dùng phổ biến không những trong ngành giấy mà còn trong rất nhiều ngành công nghiệp khác. Mặt khác, khi hơi quá nhiệt sau khi đã đi qua quá trình công nghệ, lượng nhiệt còn lại vẫn có thể tận dụng được để chạy máy phát điện tự dùng, sau đó quay trở lại gia nhiệt thêm và bắt đầu một chu trình sinh công mới, điều này làm giảm chi phí tổng thể của quá trình sản xuất. Giấy có độ ẩm cao được dẫn qua một loạt các lô sấy như Hình 2-1, có 2 loại gồm hệ thống lô sấy một lớp và hệ thống lô sấy hai lớp [2]. Hình 2-1 Mô hình của hệ thống lô sấy một lớp (bên phải) và hai lớp (bên trái) Khi hơi quá nhiệt đi vào các lô sấy, nó sẽ giải phóng năng lượng nhiệt qua các lỗ trên bền mặt của lô sấy và ngưng tụ thành nước, nước ngưng được đưa quay trở lại Trang 19 nồi hơi.
Hơi quá nhiệt được dẫn tới các lô sấy ở phần sau của máy (được gọi là mặt điều khiển), và nước ngưng được lấy ở phần mặt trước của máy (được gọi là mặt vận hành). Đối với một số máy sản xuất giấy, đặc biệt là máy có công suất lớn, nước ngưng được lấy ra từ hai mặt. Việc tháo nước ngưng có một vai trò quan trọng quyết định đến việc truyền nhiệt của các lô sấy, qua đó cho thấy sự cần thiết phải dẫn một số lượng hơi quá nhiệt nhất định đi qua các ống truyền cùng nhau với phần nước ngưng.2 Hệ thống hơi và nước ngưng Mục đích của hệ thống hơi và nước ngưng là cung cấp một khối lượng hơi cụ thể vào trong các lô sấy và lấy lại từ đó phần nước ngưng. Các lô sấy trong phần sấy khô được chia thành các nhóm sấy khác nhau, thông thường có từ 5 đến 10 nhóm sấy.
Áp suất của hơi quá nhiệt được đưa vào các nhóm sấy khác nhau được điều khiển theo một giản đồ dọc theo chiều dài của toàn bộ phần sấy, từ nhóm sấy đầu tiên đến nhóm sấy cuối cùng. Ống dẫn hơi quá nhiệt Các ống dẫn hơi quá nhiệt vào 6 lô sấy Lô sấy 1 Lô sấy 2 Lô sấy 3 Lô sấy 4 Lô sấy 5 Lô sấy 6 Ống nước ngưng Hình 2-2 Mô hình của hệ thống sấy và nước ngưng Vì hơi bên trong các lô sấy có thể coi là bão hòa vì nó có sự ngưng tụ liên tục tại vách của các lô sấy, đó là một mối liên quan trực tiếp giữa áp suất hơi và nhiệt độ của hơi. Đối với hầu hết các lớp giấy, áp suất hơi sấy khô sẽ tăng dần dần theo các lý do về khả năng và giới hạn vận hành. Theo một cách đơn giản nhất, cách để đưa hơi quá nhiệt đến các nhóm sấy khác nhau là có thể dẫn tất cả hơi quá nhiệt từ đầu phân phối hơi nước và tháo trực tiếp xuống bộ ngưng tụ nước.
Hình 2-3 mô tả một hệ thống điều khiển nước ngưng Trang 20 đơn giản với 02 nhóm sấy. Việc xả hơi nước từ nhóm sấy A và hơi giãn nở (khi nước ngưng tụ gặp áp suất thấp trong bình ngưng, bốc hơi và tạo ra hơi mới gọi là hơi giãn nở) từ bể chứa A được dẫn tới nhóm sấy B, nhóm sấy B làm việc tại một áp suất thấp hơn. Bộ điều khiển PC2 điều chỉnh độ mở van và qua đó thêm vào một lượng hơi từ đầu phân phối hơi nước nhằm duy trì áp suất mong muốn của nhóm sấy B. Ống dẫn hơi quá nhiệt Nhóm sấy B Nhóm sấy A Đưa tới hệ thống trữ nước ngưng Bể chứa B Bể chứa A Hình 2-3 Minh họa hệ thống điều khiển nước ngưng Điều này có nghĩa là phải cực tiểu hóa sai lệch áp suất giữa nhóm sấy A và nhóm sấy B.
Sai lệch áp suất này phụ thuộc vào điểm vận hành và các đặc điểm của máy. Sai lệch áp suất giữa hai nhóm sấy được điều chỉnh bởi bộ điều khiển PDC, trong Hình 2-3, nhóm B có áp suất thấp nhất trong hệ thống và qua đó bể chứa B phải xả hơi tới bộ ngưng tụ. Nhóm sấy có điểm vận hành cao hơn ấp suất khí quyển và phải có bộ ngưng tụ để đảm bảo trong bể ngưng có áp suất thấp hơn.3 Mạch vòng điều khiển độ ẩm Để điều khiển chất lượng của giấy, người ta sử dụng hệ thống điều khiển chất lượng (QCS – quality control system), QCS được chia thành 2 phần cho hai chiều riêng biệt, phần dọc theo máy (MD – machine direction control) và phần ngang máy (CD – Cross direction control). Kỹ thuật truyền thống là đo các tín hiệu của MD và CD bằng cách quét trên giấy sử dụng một cảm biển.
Cảm biến được gắn vào đế của máy quét và di chuyển qua lại theo chiều ngang của tờ giấy, phụ thuộc vào tốc độ Trang 21 của máy mà đường quét của cảm biến có hình zig – zag như Hình 2-4. Điều đó có nghĩa là sự thay đổi của các đại lượng đo theo CD và MD được tổ hợp cùng nhau trên đường này. Trong tài liệu [14] các tác giả sử dụng thuật toán bình phương cực tiểu để ước lượng các địa lượng đo theo CD và sử dụng bộ lọc Kalman để xác định các thành phần theo MD, tiếp theo các tác giả trong tài liệu [15] đã đề xuất quỹ đạo cảm biến quét theo hình ellipe bằng cách thay đổi tốc độ quét của cảm biến hoặc sử dụng 02 cảm biến chuyển động theo hai hướng ngược nhau để tăng chất lượng ước lượng các đại lượng CD và MD. Hình 2-4 Đường quét zig zag của cảm biến tạo thành trên tờ giấy Như đã đề cập ở trên, mục tiêu của các phép đo các đại lượng MD và CD là phục vụ cho bài toán điều khiển, bài toán điều khiển độ ẩm MD sẽ được thực hiện bằng cách thay đổi áp suất của hơi trong phần sấy khô.
Để đánh giá chất lượng của giấy đối với các biến cần điều khiển người ta sử dụng các đại lượng thống kê như chỉ tiêu 2σ hoặc độ lệch chuẩn. Tất cả các cuộn giấy khi sản xuất ra đều có bản báo cáo về chỉ tiêu 2σ CD và 2σ MD đối với độ ẩm và khối lượng của giấy. Hình vẽ sau minh họa độ thay đổi của độ ẩm và khối lượng của giấy trong thực tế, trong đó giá trị đặt của độ ẩm là 4.3%, của khối lượng là 80g/m2, chỉ tiêu 2σ của độ ẩm là 0.056% và của khối lượng là 0. Trang 22 Độ ẩm (%) Khối lượng (g/m2) Thời gian (s) Hình 2-5 Sự thay đổi độ ẩm và khối lượng của giấy Những giá trị trên là những giá trị trung bình của toàn bộ cuộn giấy khi sản xuất ra.
Khi điều khiển, để đảm bảo chất lượng của giấy người ta dùng các chỉ tiêu này. Giá trị đặt của độ ẩm và khối lượng thường không thay đổi và được duy trì bằng hằng số trong một khoảng thời gian dài. Cấu trúc của mạch vòng điều khiển áp suất như Hình 2-6, trong đó máy quét sẽ quét lần lượt độ ẩm của giấy của từng nhóm sấy, tín hiệu này gửi tới bộ điều khiển áp suất của hơi nóng đưa vào nhóm sấy tương ứng. Giá trị đặt tương ứng cua áp suất hơi được tính toán và thực hiện mạch vòng điều khiển, các giá trị đặt này sẽ khác nhau đối với từng nhóm sấy [2].
Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Máy sấy 1 sấy 2 sấy 3 sấy 4 sấy 5 sấy 6 quét Hướng máy Hình 2-6 Cấu trúc của vòng điều khiển độ ẩm sử dụng 01 máy quét và có 06 nhóm sấy Trang 23 Giá trị đặt của áp suất hơi Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm Nhóm sấy 1 sấy 2 sấy 3 sấy 4 sấy 5 sấy 6 Hình 2-7 Giá trị đặt của áp suất hơi đưa vào từng nhóm sấy Các giá trị đặt này được tính toán một cách tối ưu, ∆P là lượng khác nhau giữa áp suất mong muốn giữa các nhóm sấy, lượng này phụ thuộc vào tốc độ máy seo, kiểu ống truyền nước, kích thước ống ngưng tụ và ống dẫn hơi, thông thường ∆P = 50kPa. Vì hệ thống sấy được chia thành các nhóm khác nhau, do vậy hệ thống là MISO, nhiều đầu vào (áp suất hơi đưa vào từng nhóm sấy) và một đầu ra là độ ẩm của giấy. Nói cách khác hệ thống sấy có nhiều bậc tự do. Theo cách truyền thống, tất cả các bộ điều khiển áp suất hơi của từng nhóm sấy sẽ được điều khiển bám theo một tín hiệu giống nhau.
Bộ điều khiển áp suất sẽ tính toán áp suất đặt cho một nhóm nào đó, được gọi là nhóm dẫn chính, các nhóm còn lại áp suất đặt sẽ được tính toán theo một công thức tỷ lệ với áp suất đặt của nhóm dẫn chính. Như ở Hình 2-6 và Hình 2-7, nhóm sấy 5 là nhóm dẫn chính, nó có áp suất cao nhất, nhóm này nhận giá trị áp suất đặt từ bộ điều khiển áp suất, giá trị đặt của các nhóm còn lại được tính toán từ giá trị đặt của nhóm sấy 5 như Hình 2-8.