đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trƣờng phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hƣớng dẫn của giáo viên. Dạy học tích cực xem việc rèn luyện phƣơng pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong xã hội hiện đại với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học, kĩ thuật, công nghệ, thời gian trên lớp học không đủ để trang bị cho ngƣời học mọi tri thức và không thể nhồi nhét vào đầu óc ngƣời học quá nhiều kiến thức. Vì vậy cần phải dạy PP học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn thì càng phải đƣợc chú trọng.
Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tƣ duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phƣơng pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cƣờng độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học đƣợc thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập, áp dụng dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn. Việc sử dụng các phƣơng tiện công nghệ thông tin trong nhà trƣờng sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều đƣợc hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trƣờng giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đƣờng chiếm lĩnh nội dung học tập.
Thông qua thảo luận, tranh - 13 - z luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân đƣợc bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó ngƣời học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng đƣợc vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của ngƣời thầy giáo. Trong nhà trƣờng, phƣơng pháp học tập hợp tác đƣợc tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trƣờng. Đƣợc sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 ngƣời.
Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tƣợng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên đƣợc bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tƣơng trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đƣa vào đời sống học đƣờng sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trƣờng đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trƣờng phải chuẩn bị cho học sinh.
Để phát huy tính tích cực của ngƣời học đòi hỏi phải có sự phân hóa về trình độ, cƣờng độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập. Cần tăng cƣờng cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. Các bài học đƣợc thiết kế thành một chuỗi nhiệm vụ phù hợp với khả năng nhận thức của từng đối tƣợng ngƣời học. Nhƣ vậy học tập cá thể đáp ứng đƣợc trình độ của ngƣời học, phù hợp với phong cách học của mỗi cá nhân.
Qua đó ngƣời học rèn luyện ý thức tự lực, ý thức trách nhiệm với kết quả học tập của mình. Tuy vậy, lớp học là môi trƣờng giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức.Thông qua thảo luận, tranh luận trong nhóm, ý kiến mỗi cá nhân đƣợc bộc lộ và đƣợc chia sẻ. HS không chỉ có điều kiện học tập với nhau mà còn - 14 - z học tập lẫn nhau.Kiến thức mà ngƣời học thu đƣợc là sự đóng góp của nhiều ngƣời. Đồng thời qua học tập hợp tác, các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng lắng nghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần tƣơng trợ đƣợc rèn luyện và phát triển.
Dạy học thông qua hợp tác nhóm tạo nên mối quan hệ tƣơng tác giữa trò với trò, giữa thày với trò, tạo nên sự bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên và tạo nên môi trƣờng học tập an toàn. Trong môi trƣờng đó mỗi cá nhân đƣợc phép thể hiện tối đa khả năng nhận thức và kinh nghiệm của mình một cách tự tin và thoải mái bởi cảm giác an toàn. Học tập hợp tác theo nhóm còn phát triển ở HS kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển và lãnh đạo. Thông qua đó hình thành ở HS những phẩm chất của ngƣời lao động d.
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trƣớc đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phƣơng pháp tích cực, giáo viên phải hƣớng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh đƣợc tham gia đánh giá lẫn nhau.
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trƣờng phải trang bị cho học sinh. Theo hƣớng phát triển các phƣơng pháp tích cực để đào tạo những con ngƣời năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. - 15 - z Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là ngƣời truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành ngƣời thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chƣơng trình.
Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhƣng trƣớc đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tƣ công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là ngƣời gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sƣ phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hƣớng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. Các yếu tố thúc đẩy dạy học tích cực * Không khí học tập và các mối quan hệ trong lớp/nhóm Xây dựng môi trƣờng học tập thân thiện, mang tính kích thích: Nhƣ bố trí bàn ghế, trang trí trên tƣờng, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâm tới sự thoải mái về tinh thần. Hỗ trợ cá nhân một cách tích cực, tạo cơ hội để HS giao tiếp, thể hiện quan điểm, giá trị, mơ ƣớc, chia sẻ kinh nghiệm,.
và hợp tác trong các hoạt động học tập, tạo ra môi trƣờng học tập thoải mái, không căng thẳng, không nặng nề, không gây phiền nhiễu. Cho phép có các hoạt động giải trí nhẹ nhàng, truyện vui, hài hƣớc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ * Sự phù hợp với mức độ phát triển của HS Để thúc đẩy quá trình học tập của học sinh, cần phải kể đến sự phù hợp với các mức độ phát triển của học sinh. Đầu tiên là sự phân hóa về nhịp - 16 - z độ học tập giữa các đối tƣợng HS khác nhau từ đó dẫn tới sự khác biệt về trình độ phát triển của HS. Do vậy yêu cầu ngƣời giáo viên phải trình bày rõ ràng về những mong đợi của thày đối với trò (nhất trí thoả thuận), đƣa ra các yêu cầu rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa.
Đồng thời khuyến khích HS giúp đỡ lẫn nhau, từ đó dành thời gian đặt các câu hỏi yêu cầu HS động não và hỗ trợ cá nhân. Ngoài ra có thể quan sát học sinh học tập để tìm ra phong cách và sở thích học tập của từng HS, tạo điều kiện trao đổi với HS về nhiệm vụ học tập * Sự gần gũi với thực tế Nỗ lực gắn nội dung/nhiệm vụ với các mối quan tâm của HS và với thế giới thực tại xung quanh nhƣ gắn với các công việc trong gia đình hàng ngày. Hƣớng dẫn HS tận dụng mọi cơ hội có thể để tiếp xúc với vật thực/tình huống thực, sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn (trình chiếu, video, tranh ảnh,…) để “đƣa” HS lại gần đời sống thực tế. Đồng thời giao các nhiệm vụ vận dụng kiến thức/kĩ năng trong môn học có ý nghĩa với HS từ đó giúp HS khai thác những đề tài vƣợt ra ngoài giới hạn của các môn học riêng rẽ, kích thích khả năng tƣ duy, tính tích cực, chủ động ở HS * Mức độ và sự đa dạng của hoạt động Hạn chế tối đa thời gian chết và thời gian chờ đợi, với các đối tƣợng HS khác nhau cần có những yêu cầu khác nhau có nhƣ vậy mới tăng cƣờng sự tham gia tích cực, hoặc có thể tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực, tích hợp các hoạt động học mà chơi (các trò chơi giáo dục) nhƣ tham gia hoạt động giải ô chữ theo lĩnh vực yêu thích.
Thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập để có thể đảm bảo đủ thời gian thực hàn.