Chương 1. CƠ SỞ LY LUẬN 1. ĐÔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 1.1 Một số xu hướng đối mới phương pháp dạy học hiện nay Trên thế gió và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đôi mới phương pháp đạy học theo các hướng khác nhau. Sau đây là một số xu hướng đỗi mới cơ bản: 1.
Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt động từ giáo viên sang học sinh. Chuyến lỗi học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá. Tạo điều kiện cho học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
Phục vụ ngày cảng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. Không chi dạy kiên thức mà còn day cách hoc, trang bị cho học sinh phương pháp học tập, phương pháp tự học dé thực hiện phương châm học suốt đời. Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả nang van dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế. Chuyến từ lỗi học nặng về tiêu hoá kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức.
Cá thể hoá việc dạy học. Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện day học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học. Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dung nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học. Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của học sinh, theo cấp học, bậc học).
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học sách giáo khoa cải cách - Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12-1996), được thể chế hoá trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hoá trong các chỉ thị số 14 (4-1999). - Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh: phủ hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. - Có thể nói đổi mới của hoạt động dạy và học là hưởng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thỏi quen học tập thụ động. - Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đã được các tác giả viết sách quán triệt vào quá trình lựa chọn nội dung sách giáo khoa, vào việc trình bày sách giáo khoa và SVTH: Nguyen .7⁄4 Khdat Chi 3 Phong pháp hep tác ahém nhé va đồng vai.®@„ sách giáo viên.
Giáo viên va cán bộ quan lí trường THPT cần nắm được những yêu cầu và qui trình đổi mới các phương pháp dạy học. Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thong ma phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với phương pháp hiện đại. PHAT HUY TÍNH TÍCH CYC CUA NGƯỜI HỌC 1.1 Tinh tích cực trong học tập 1. Khái niệm tính tích cực - Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách, nó liên quan và phụ thuộc vào các thuộc tính khác đặc biệt là thái 46, nhu cau, hứng thú.
và động cơ của chủ thể. Tính tích cực luôn gắn với một hoạt động cụ thể nào đó. Nó nằm trong hoạt động, biểu hiện qua hành động và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động. Trong hoạt động nhận thức, tính tích cực biểu hiện ở sự nỗ lực của mỗi cá nhân biến nhu cầu thành hiện thực.
Nó làm cho quá trình học tập, tìm tồi, sáng tạo có tính định hướng cao hơn, từ đó con người dễ làm chủ và điều khiển hoạt động của mình.C Babanxki, tính tích cực trong học tập được hiểu là “sy phản ánh vai trò tích cực của cá nhân học sinh trong quá trình học, nhắn mạnh rằng, học sinh là chủ thể của quá trình học chứ không phải là đối tượng thụ động. Tính tích cực của học sinh không chi tập trung vào việc ghi chép, ghi nhớ đơn giản hay thể hiện sự chú ý mà còn hướng học sinh tự lĩnh hội các ti thức mới, tự nghiên cứu các sự kiện, tự rút ra kết luận và tự khái quát sao cho dễ hiểu, tụ cụ thả hóa Kika tho xuửi nhân: Hấp the kiến thức mới”. Hà Thế Ngữ thì tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh là sự ý thức được nhiệm vụ học tập từng bộ môn, từng bài nói riêng thông qua việc học sinh hãng say học tập, từ đó tự mình ra sức hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự mình khắc phục khó khăn để nắm tri thức, kỹ năng mới và nắm tài liệu một cách tự giác. Tự giác nắm kiến thức nghĩa là với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự mình nắm bản chất của sự vật, hiện tượng mà tri thức đó phản ánh, biến tri thức thành vốn riêng của mình, thành một bộ phận kinh nghiệm của cuộc sống của mình, thành một bộ phận của thuộc tính nhân cách.
Như vậy ta có thể coi tính tích cực trong học tập là sự tự giác tìm tòi, nắm vững tri thức, vận dụng nó một cách thành thao vào thực tiễn. Tích cực hóa hoạt động nhận thức tức là chuyên người học từ vị trí thụ động sang chủ động, giúp họ tìm thay niềm say mê hứng thú trong học tập. Kết quả học tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động nhận thức nên việc học tập chỉ có hiệu quả cao khi giáo viên phát huy hết khả năng tích cực sáng tạo của học sinh. Những đặc trưng cơ bản của phương pháp tích cực (Theo dé tài NCKH cấp Bộ B96- 49 - 15.“ Những đặc trưng cơ bản của phương pháp day học theo tư tưởng giáo dục tích cực trong nhà trưởng phổ thông hiện nay”,Viện khoa học giáo duc, 1997).⁄444 Chi 4 ương pháp hap tác nhám ahi uà đáng vai.®ề„ Phương pháp tích cực có 3 đặc trưng cơ bản sau: 1.
Tac động qua lại 2. Tham gia, hợp tác 3. Tinh van dé cao của dạy học hay tính liên tục của nhận thức 1. Tác động qua lại Nguyên tắc này được hiểu ở nhiều mặt và theo phương pháp biện chứng: - Sự va chạm giữa các logic tư duy, các sắc thái tưởng tượng và cách biểu đạt ching, giữa logic và phi logic trong hành động và trong tư duy của các chủ thê dạy học.
- Sự chênh nhau, bé sung lẫn nhau giữa vốn văn hoá, kinh nghiệm cá nhân và nhóm. - Sự tương phản hay doi chiếu nhau giữa những lập luận, phán xét, suy luận, ý kiến và thái độ trong quan hệ người — người và quan hệ giữa nhân tổ con người và các nguôn lực học tập. - Sự xung đột không dé hoà giải ngay giữa các quá trình nhận thức lí tính và tuệ tính (trực giác), giữa phương pháp và kết quả học tập, giữa phương tiện và mục tiêu đạt được, giữa nhiệm vụ và sản phẩm thu được. - Sự khác biệt và bù trừ lẫn nhau giữa các nhịp độ hoạt động, phong cách và kĩ 2.
Tham gia - hợp tác - Nguyên tắc này chủ yếu thể hiện phong cách và cấu trúc của dạy học, đặc biệt của nội dung đạy học và giao tiếp sư phạm, tổ chức hoạt động. Nhờ đặc trưng này, dạy học kích thích tính chủ động, trách nhiệm cá nhân, ý thức tự do và tự quyết, khả năng tự thể hiện, đánh giá trong học tập. Nó phát triển những cơ hội học tập phong phú, những tình thế và nhiệm vụ đa dạng, động cơ học tập cao và liên tục, các y tố dân chủ, xây dựng, thiện chí và bình đăng trong các quan hệ thày - trò, trò - trò. Khi thực hiện nguyên tắc này, dạy học chắc chắn có tính tích cực về mọi phương điện: trí tuệ, tình cảm, đạo đức, kinh nghiệm đánh giá, động cơ xã hội ., đặc biệt phát huy được ý thức tự nguyện học tập, tạo ra sự hài hoà giữa ý thức về quyển và ý thức về bổn phận, có tác dụng giáo dục mạnh mẽ.
- Phong cách dân chủ cởi mở trong từng quan hệ người — người, hạn chế tối đa việc lạm dụng chỉ thị, mệnh lệnh, phát huy tối đa ý thức trách nhiệm và cảm giác tự do thoải mái của người học. ~ Cấu trúc nội dung dạy học và các nhiệm vụ học tập linh hoạt, đa dang, mềm mại. Người dạy chủ yếu giữ vai trò cổ vấn, khích lệ, điều chỉnh, tránh làm hộ, chỉ rõ ngay cách học, cách làm. ~ Tính hợp lý trong quan hệ giữa kiểm tra và tự kiểm tra, đánh giá và tự đánh giá, chỉ đạo và tự chỉ đạo, tự do và chuân mực, mục đích chung và mục tiêu cá nhân, nhiệm vụ và khả năng học tập, ý thức tổ chức của giáo viên và thiện ý của học sinh, lợi SVTH: .2⁄/x Ti Ktdah Chi 5 Phuong pháp hyp tác nám nhd uà đáng vai.®ê„ ích và nghĩa vụ, khen và chê.
là những yếu tổ chung đảm bao thành công của cả phong cách lẫn cấu trúc tham gia - hợp tác. Tính vấn đề cao của dạy học và tính liên tục của nhận thức - Tính vấn đẻ trong dạy học tích cực là tính vấn đề tương đối cao, rõ nét, được hoạch định tự giác, đủ để kích thích hoạt động học tập. Nó cần có một môi trường thích hợp (nhân văn, cởi mở và nang động), gôm những tác nhân gây ảnh ket ĐT tri giác, tưởng tượng, kinh nghiệm và thái độ của người học. Khi tình huống có van đề xuất hiện ở nhiều cá nhân, có tần số cao, thì phương pháp dạy học lúc đó có tính chất hoạt động hoá.
Càng đông học sinh trong lớp thì càng khó có tính vấn dé cao. Tính vấn dé thông qua ảnh hưởng của phương pháp dạy học chuyển hoá thành các tình huống dạy học (tình hudng didactic). - Van đề nhận thức trong day học hay van dé học tập, tồn tại khách quan trong day học. Tính vấn đề bắt nguồn từ những vấn dé học tập.
được biểu đạt bởi nhiệm vụ nhận thức chưa được giải quyết nhưng có thể giải quyết được. Tính vẫn đề không tự dưng biến thành những tình huống van để, mà thông qua những tình huống didactic phù hợp do giáo viên tạo nên.