Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật chuyên ngành Luật Kinh tế của sinh viên Kiều Minh Khánh (Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, năm 2022) tập trung nghiên cứu cơ chế pháp lý về phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trong thủ tục phá sản tại Việt Nam.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh và đào thải là quy luật tất yếu. Doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh, thua lỗ kéo dài sẽ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tác giả đặt nghiên cứu vào bối cảnh thực tiễn giai đoạn 2019–2022, khi nền kinh tế Việt Nam chịu tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19. Dữ liệu thực tế được tác giả trích dẫn từ các cơ quan chuyên môn gồm:
- Thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam trong quý I năm 2020: có 18,6 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh; 12,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể; 4.343 doanh nghiệp thông báo giải thể và 5.206 doanh nghiệp chờ giải thể tại cơ quan thuế.
- Khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp cùng Ngân hàng Thế giới (WB) trên hơn 10.000 doanh nghiệp năm 2022: 87,2% doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp từ dịch bệnh; 11% không bị ảnh hưởng và chỉ 2% duy trì kinh doanh tốt.
- Tỷ lệ doanh nghiệp giải thể, phá sản đầu năm 2021 tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2020.
- Số liệu quý I năm 2022: 60,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới hoặc quay trở lại hoạt động (tăng 36,7%), nhưng đồng thời có 51,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (bình quân 17,1 nghìn doanh nghiệp mỗi tháng, tăng 27,2% so với cùng kỳ 2021).
Về mặt lập pháp, Luật Phá sản năm 2014 đã tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, nhưng các quy định tại Chương VII về phục hồi hoạt động kinh doanh còn bộc lộ bất cập, chưa chú trọng đúng mức đến hiệu quả phục hồi. Nhận thức của doanh nghiệp và chủ nợ về cơ chế này còn hạn chế, dẫn đến việc áp dụng trên thực tế chưa đạt hiệu quả mong muốn.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đưa ra những đóng góp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật phá sản về hoạt động phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc nghiên cứu toàn diện quy định và thực tiễn áp dụng. Tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Giúp các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hiểu rõ về thủ tục giải quyết phá sản, đặc biệt là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật phá sản;
- Đánh giá ý nghĩa và vai trò của phục hồi hoạt động kinh doanh đối với chủ nợ, người lao động và chính doanh nghiệp mắc nợ;
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật phá sản hiện nay và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật thông qua những bất cập trong thi hành Luật Phá sản 2014 về phục hồi hoạt động kinh doanh.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng cơ chế phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trong thủ tục giải quyết phá sản. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào pháp luật Việt Nam, có mở rộng so sánh với pháp luật của Nhật Bản, Pháp, Liên bang Nga, Hoa Kỳ và Trung Quốc; phạm vi đối tượng tập trung vào doanh nghiệp (không đi sâu vào mô hình hợp tác xã); phạm vi thời gian khảo sát từ Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, Luật Phá sản 2004 đến Luật Phá sản 2014 và thực tiễn đến quý I năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm pháp lý chuyên ngành và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:
- Khái niệm "Phá sản": Đối chiếu từ thuật ngữ "khánh tận" trong Luật Thương mại 1972 của chính quyền Sài Gòn, các định nghĩa trong Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), tinh thần Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, Luật Phá sản 2004, và khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản 2014 quy định phá sản là tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.
- Khái niệm "Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán": Căn cứ khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014, xác định qua tiêu chí không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn.
- Khái niệm "Phục hồi hoạt động kinh doanh": Tiếp cận quan điểm học thuật của Giáo sư Gérard Cornu (Đại học Montpellier), ThS. Nguyễn Đức Thưởng, ThS. Nguyễn Quang Trung và TS. Bùi Thị Dung về bản chất cứu vãn doanh nghiệp và duy trì việc làm.
- Khung văn bản pháp luật tham chiếu: Hiến pháp 2013, Luật Doanh nghiệp 2020 (5 loại hình doanh nghiệp), Luật Hợp tác xã 2012, Luật Đầu tư và Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả phân bổ linh hoạt theo kết cấu nội dung:
- Chương 1 và Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu thống kê, quy nạp và diễn giải nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và rà soát từng điều khoản pháp luật thực định.
- Chương 3: Sử dụng phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định của Việt Nam với các nước), phương pháp đối chiếu thống kê, logic học và xã hội học pháp luật để đánh giá thực trạng và xây dựng kiến nghị.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật phá sản qua các thời kỳ; tài liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, VCCI, Ngân hàng Thế giới; các giáo trình của Đại học Luật Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân; cùng các ấn phẩm nghiên cứu của TS. Dương Kim Thế Nguyên, PGS.TS. Dương Đăng Huệ, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, TS. Trần Thị Thu Hà; và hồ sơ đề án tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam theo Quyết định số 2108/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Những vấn đề lý luận về phá sản và phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trong thủ tục giải quyết phá sản
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về phá sản và thủ tục phục hồi. Về mặt học thuật, tác giả làm rõ sự chuyển đổi từ thuật ngữ "lâm vào tình trạng phá sản" tại Luật Phá sản 2004 sang "mất khả năng thanh toán" tại Luật Phá sản 2014, giúp phản ánh chính xác tình trạng tài chính khách quan của doanh nghiệp khi không trả được nợ quá 03 tháng. Tác giả phân định ranh giới giữa việc doanh nghiệp tự phục hồi (tự tái cấu trúc nội bộ) với thủ tục phục hồi được Tòa án áp dụng thông qua Hội nghị chủ nợ (mang tính chất tố tụng tư pháp đặc thù).
Tác giả xác định 5 đặc điểm cơ bản của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh:
- Là một giai đoạn trong quá trình giải quyết phá sản, bắt buộc phải có sự chấp thuận của Hội nghị chủ nợ;
- Doanh nghiệp phục hồi thành công sẽ không bị phân chia tài sản theo thứ tự thanh lý như trường hợp tuyên bố phá sản;
- Giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn tài chính và nợ nần;
- Doanh nghiệp không phải thanh lý tài sản nhưng phải chịu sự giám sát trực tiếp từ Thẩm phán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và các chủ nợ;
- Doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo tiến độ định kỳ cho Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để báo cáo lại cho Thẩm phán và chủ nợ.
Về mặt ý nghĩa, thủ tục phục hồi mang tính nhân đạo sâu sắc:
- Đối với người lao động: Giúp duy trì công ăn việc làm, hạn chế tình trạng mất việc làm hàng loạt, bảo đảm an sinh xã hội;
- Đối với chủ nợ: Tối đa hóa khả năng thu hồi đầy đủ các khoản nợ thay vì chỉ nhận được một phần giá trị tài sản thanh lý;
- Đối với nền kinh tế - xã hội: Ổn định chuỗi cung ứng, hạn chế phản ứng dây chuyền tiêu cực, duy trì nguồn thu ngân sách nhà nước;
- Đối với doanh nghiệp: Là cơ hội pháp lý cuối cùng để khôi phục uy tín, tái cấu trúc tổ chức và tiếp tục tồn tại trên thương trường.
Chương 2. Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo quy định của Luật Phá sản 2014
Chương 2 phân tích chi tiết quy định thực định của Luật Phá sản 2014. Trình tự giải quyết phá sản gồm 7 bước: (1) Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; (2) Tòa án nhận và thụ lý đơn; (3) Mở thủ tục phá sản; (4) Tổ chức Hội nghị chủ nợ; (5) Phục hồi hoạt động kinh doanh; (6) Ra quyết định tuyên bố phá sản; (7) Thi hành quyết định tuyên bố phá sản.
Trọng tâm của chương làm rõ chế định phục hồi hoạt động kinh doanh:
- Thẩm quyền và chủ thể nộp đơn: Phân định rõ chủ thể có quyền (chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, người lao động, công đoàn, cổ đông sở hữu từ 20% cổ phần phổ thông trong 06 tháng liên tục) và chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn (người đại diện theo pháp luật, Chủ tịch HĐQT, Chủ tịch HĐTV, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh).
- Vai trò của Quản tài viên: Tham gia từ khi có quyết định mở thủ tục phá sản theo Điều 16 Luật Phá sản 2014 để quản lý, bảo toàn tài sản, ngăn chặn tẩu tán, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi và thực hiện giám sát độc lập.
- Điều kiện áp dụng: Bắt buộc phải có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua đề nghị áp dụng thủ tục phục hồi (theo Điều 81, cần quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm biểu quyết tán thành).
- Xây dựng và thực hiện phương án: Doanh nghiệp phải xây dựng phương án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết. Điều 88 quy định 7 biện pháp phục hồi cụ thể: (1) Huy động vốn; (2) Giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ; (3) Thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; (4) Đổi mới công nghệ sản xuất; (5) Tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất; (6) Bán cổ phần cho chủ nợ và người khác; (7) Bán hoặc cho thuê tài sản; cùng các biện pháp khác không trái pháp luật.
- Thời hạn và giám sát: Thời hạn thực hiện phương án tối đa là 03 năm (tăng thêm 01 năm so với mức 02 năm của Luật Phá sản doanh nghiệp 1993). Định kỳ 06 tháng một lần, doanh nghiệp phải báo cáo tình hình cho Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
- Đình chỉ thủ tục: Xảy ra trong 3 trường hợp: doanh nghiệp thực hiện xong phương án; không thực hiện được phương án; hoặc hết thời hạn mà vẫn mất khả năng thanh toán. Hai trường hợp sau sẽ dẫn tới quyết định tuyên bố phá sản.
Chương 3. Thực tiễn phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
Chương 3 mở đầu bằng việc đối chiếu pháp luật quốc tế về cơ chế phục hồi:
- Nhật Bản: Áp dụng 3 thủ tục linh hoạt gồm sắp xếp lại công ty (ngoài Tòa án), phục hồi dân sự (cho cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm cả pháp nhân công ích như trường học, bệnh viện), và tổ chức lại công ty (dành riêng cho các tập đoàn lớn, ngân hàng, công ty tài chính).
- Pháp: Phân định rạch ròi giữa thủ tục phục hồi và thủ tục phá sản; Tòa án giữ quyền quyết định chấp thuận phương án dựa trên tư vấn của người do Tòa án chỉ định mà không bị phụ thuộc tuyệt đối vào sự đồng thuận của nhóm chủ nợ lớn.
- Liên bang Nga: Quy định thủ tục tổ chức lại (quản lý tài sản và phục hồi) và thanh lý theo Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1992.
- Hoa Kỳ: Thiết lập cơ chế đại diện Chính phủ trực tiếp giám sát quá trình phục hồi và báo cáo Tòa án.
- Trung Quốc: Điều 70 Luật Phá sản 2006 cho phép cả con nợ và chủ nợ nộp đơn trực tiếp yêu cầu Tòa án áp dụng thủ tục cải chính; đồng thời cho thời hạn lên đến 06 tháng (180 ngày) để hoàn thiện phương án.
Về mặt thực tiễn tại Việt Nam, tác giả dẫn chứng điển hình từ đề án tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam theo Quyết định số 2108/QĐ-TTg ngày 18/11/2010. Doanh nghiệp này được tái cơ cấu bằng cách chia ba phần (chuyển giao hai phần cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam); thành lập Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy vào tháng 10/2013 với mô hình công ty mẹ nắm giữ 8 công ty con; phát hành trái phiếu hoán đổi nợ có bảo lãnh của Chính phủ tại thị trường Singapore với tổng mệnh giá 626,8 triệu USD (tương đương 13.163 tỷ đồng), đáo hạn vào năm 2025. Vụ việc chứng minh hiệu quả thực tế của biện pháp tổ chức lại bộ máy và giãn hoãn nợ.
Từ việc phân tích thực trạng, tác giả chỉ ra 5 bất cập lớn của Luật Phá sản 2014:
- Quyền quyết định áp dụng phục hồi phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ nợ không có bảo đảm, chưa tôn trọng đúng mức ý chí của chính doanh nghiệp mắc nợ;
- Thời hạn 30 ngày để lập phương án phục hồi là quá ngắn đối với các doanh nghiệp quy mô lớn;
- Điều 92 quy định chấm dứt áp dụng các biện pháp cấm và giám sát tại Điều 48 và 49 kể từ ngày Nghị quyết công nhận phương án có hiệu lực, tạo kẽ hở cho doanh nghiệp tẩu tán tài sản;
- Chưa có cơ chế hậu kiểm chặt chẽ đối với nghĩa vụ báo cáo 06 tháng/lần của doanh nghiệp;
- Quy định sử dụng tài sản bảo đảm để phục hồi kinh doanh tiềm ẩn rủi ro xâm hại quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể:
- Xem xét bổ sung quyền yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi của chính doanh nghiệp mắc nợ (tham khảo Điều 70 Luật Phá sản Trung Quốc) nhằm tránh sự chi phối phiến diện từ chủ nợ;
- Kéo dài thời hạn xây dựng phương án phục hồi lên mức khoảng 03 tháng (cho phép các bên thỏa thuận thời hạn nhưng không vượt quá luật định);
- Tăng cường kiểm soát tài sản, bãi bỏ kẽ hở chấm dứt giám sát tại Điều 48 và Điều 49 để ngăn chặn tình trạng tẩu tán tài sản trong giai đoạn phục hồi;
- Hoàn thiện chế tài xử lý khi doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ báo cáo định kỳ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận làm rõ bức tranh toàn diện về chế định phục hồi hoạt động kinh doanh trong thủ tục giải quyết phá sản, kết hợp giữa rà soát lý luận, khảo sát số liệu thực tiễn và nghiên cứu so sánh pháp luật.
Bảng tổng hợp đối chiếu cơ chế phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định pháp luật:
| Tiêu chí so sánh |
Luật Phá sản 1993 |
Luật Phá sản 2004 |
Luật Phá sản 2014 |
Pháp luật nước ngoài tham chiếu (TQ, Pháp) |
| Chủ thể lập phương án |
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản |
Bất kỳ chủ nợ hoặc người nhận nghĩa vụ phục hồi |
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (tự lập) |
Trung Quốc: Người quản lý nợ hoặc người quản lý phá sản lập |
| Thời hạn lập phương án |
Chưa quy định cụ thể thời hạn ngắn |
Do Tòa án ấn định theo thủ tục |
30 ngày kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua |
Trung Quốc: Cho phép thời hạn 06 tháng (180 ngày) |
| Thời hạn thực hiện phương án |
Tối đa 02 năm |
Tối đa 03 năm |
Tối đa 03 năm |
Tùy theo phương án được phê duyệt |
| Tỷ lệ biểu quyết thông qua |
Theo quy định chung của Hội nghị chủ nợ |
Quá nửa số chủ nợ đại diện từ 2/3 tổng số nợ không bảo đảm |
Quá nửa số chủ nợ có mặt đại diện từ 65% tổng số nợ không bảo đảm |
Pháp: Tòa án toàn quyền quyết định dựa trên ý kiến tư vấn |
| Biện pháp phục hồi luật định |
Tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh |
Quy định 07 biện pháp cụ thể |
Bổ sung biện pháp "giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ" đứng thứ hai |
Đa dạng: sắp xếp ngoài tòa, cải chính, phục hồi dân sự |
| Chủ thể giám sát thực hiện |
Tòa án và các chủ nợ |
Chủ nợ có nghĩa vụ giám sát |
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản và chủ nợ |
Hoa Kỳ: Đại diện Chính phủ giám sát và báo cáo Tòa án |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở các điểm sau:
- Làm rõ bản chất pháp lý của tình trạng "mất khả năng thanh toán" (thời hạn 03 tháng) và định vị rõ vai trò của Quản tài viên - chế định tiến bộ được bổ sung trong Luật Phá sản 2014.
- Phát hiện các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp tại các điều 48, 49, 81, 87 và 88 Luật Phá sản 2014 gây khó khăn cho việc phục hồi doanh nghiệp sau biến cố COVID-19.
- Đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể có tính khả thi cao, xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn quốc tế (đặc biệt là mô hình cải chính của Trung Quốc và giám sát phục hồi của Hoa Kỳ).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số điểm hạn chế được xác định từ phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng doanh nghiệp, chưa phân tích chuyên sâu thủ tục phục hồi đối với mô hình hợp tác xã mặc dù Luật Phá sản 2014 điều chỉnh đồng thời cả hai loại hình này.
- Số liệu thực tiễn và án lệ phục hồi tại Tòa án nhân dân các cấp chưa được khảo sát sâu rộng trên diện rộng mà chủ yếu phân tích qua các báo cáo thống kê kinh tế vĩ mô và một đề án tái cơ cấu điển hình (Vinashin) do khó khăn trong việc tiếp cận các bản án, quyết định giải quyết phá sản thực tế tại Tòa án.
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài bao gồm:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cơ chế phục hồi cho mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã và các định chế tài chính đặc thù (ngân hàng, bảo hiểm);
- Nghiên cứu sâu về cơ chế định giá tài sản và xác định trách nhiệm dân sự, hình sự của người quản lý doanh nghiệp khi có hành vi tẩu tán tài sản trong giai đoạn thực hiện phương án phục hồi.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự: Dùng làm tài liệu học tập, nghiên cứu về thủ tục phá sản doanh nghiệp và kỹ năng phân tích điều khoản luật thực định.
- Sinh viên và nhà nghiên cứu ngành Quản trị Kinh doanh, Tài chính: Tham khảo cơ chế tái cấu trúc doanh nghiệp và 7 nhóm biện pháp phục hồi tài chính theo luật định.
- Luật sư, Quản tài viên và cán bộ pháp chế doanh nghiệp: Tham khảo quy trình 7 bước giải quyết phá sản, các mốc thời hạn tố tụng, điều kiện tổ chức Hội nghị chủ nợ và các biện pháp bảo vệ tài sản doanh nghiệp.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật trong văn bản gồm: bảng phân tích 7 biện pháp phục hồi kinh doanh tại Điều 88, phân tích vụ việc tái cơ cấu Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin), và các luận cứ so sánh pháp luật phá sản của Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Doanh nghiệp bị xác định là mất khả năng thanh toán theo Luật Phá sản 2014 dựa trên căn cứ nào?
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Tiêu chuẩn xác định gồm 2 yếu tố: có khoản nợ đến hạn không được thực hiện nghĩa vụ trả nợ, và tình trạng không thanh toán đó kéo dài quá thời hạn 03 tháng.
2. Điều kiện để Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh được luật định như thế nào?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 và Điều 90 Luật Phá sản 2014, Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi khi có quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành. Ngoài ra, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bắt buộc phải có mặt tại hội nghị.
3. Điều 88 Luật Phá sản 2014 quy định những biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh nào?
Doanh nghiệp có thể áp dụng 7 nhóm biện pháp: (1) Huy động vốn; (2) Giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ; (3) Thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; (4) Đổi mới công nghệ sản xuất; (5) Tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất; (6) Bán cổ phần cho chủ nợ và những người khác; (7) Bán hoặc cho thuê tài sản; cùng các biện pháp khác không trái quy định của pháp luật.
4. Thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh tối đa là bao lâu?
Thời hạn thực hiện phương án phục hồi do Hội nghị chủ nợ thông qua theo phương án nhưng tối đa không quá 03 năm kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua phương án (khoản 1 Điều 89 Luật Phá sản 2014). Mức thời hạn này đã được nới rộng thêm 01 năm so với mức tối đa 02 năm quy định tại Luật Phá sản doanh nghiệp 1993.
5. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất về mặt thời gian khi xây dựng phương án phục hồi là gì và đề xuất giải pháp nào?
Tác giả chỉ ra thời hạn 30 ngày quy định tại khoản 1 Điều 87 Luật Phá sản 2014 để doanh nghiệp tự lập phương án là quá ngắn, không khả thi đối với doanh nghiệp quy mô lớn. Đối chiếu với Điều 70 Luật Phá sản Trung Quốc 2006 (cho phép thời hạn 06 tháng), tác giả kiến nghị nâng thời hạn lập phương án tại Việt Nam lên khoảng 03 tháng và cho phép các bên thỏa thuận linh hoạt thời gian chuẩn bị nhưng không vượt quá luật định.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Kiều Minh Khánh đã phân tích hệ thống các quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo Luật Phá sản 2014. Bằng việc kết hợp phương pháp luật học so sánh với thực tiễn khó khăn của doanh nghiệp trong giai đoạn dịch COVID-19, công trình đã làm sáng tỏ 5 điểm hạn chế cốt lõi của luật hiện hành liên quan đến quyền quyết định phục hồi, thời hạn xây dựng phương án và cơ chế giám sát tài sản. Các kiến nghị điều chỉnh thời hạn lập phương án lên 03 tháng và tăng quyền chủ động cho con nợ là những giải pháp có giá trị thực tiễn đối với tiến trình hoàn thiện pháp luật phá sản tại Việt Nam.