Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỤ NỮ THAM GIA LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Để lý giải nguyên nhân tại sao hiện nay phụ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo nói chung và tham gia quản lý, lãnh đạo trong hệ thống chính trị nói riêng với số lượng ít, chất lượng chưa cao. Đồng thời, để có sở cứ xây dựng các nhóm giải pháp thực tiễn thúc đẩy sự tham gia quản lý, lãnh đạo của phụ nữ. Tác giả tiến hành nghiên cứu, phân tích một số khái niệm và xây dựng khung lý thuyết trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, nhà nước ta về vai trò, vị trí của phụ nữ trong đời sống xã hội nói chung và đời sống chính trị nói riêng. Các khái niệm công cụ Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả có sử dụng một số khái niệm làm công cụ cho quá trình phân tích, tổng hợp.
Các khái niệm này được làm sáng tỏ trong chừng mực mà mục đích nghiên cứu đặt ra. Khái niệm giới, bình đẳng giới, định kiến giới, bất bình đẳng giới Khái niệm giới Khái niệm khoa học nhân văn về giới gồm nam giới và nữ giới. Liên quan đến vấn đề giới cần phân biệt hai khái niệm giới tính tự nhiên (sex) và giới tính xã hội (Gender). Giới tính tự nhiên (sex) là sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học (cấu tạo hooc môn, nhiễm sắc thể, các bộ phận sinh dục…).
Sự khác biệt này liên quan tới quá trình tái sản xuất giống nòi. Giới tính tự nhiên có tính bẩm sinh, tính đồng nhất, tính không đổi và không thay đổi. Giới tính xã hội – giới tính văn hóa (Gender) hay còn được gọi tắt là giới: Là các quan niệm, thái độ, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của nữ giới và nam giới trong bối cảnh xã hội cụ thể. Giới tính xã hội mang đặc trưng xã hội, do dạy và học mà có, có tính đa dạng, biến đổi theo hoàn cảnh xã hội, thay đổi theo không gian, thời gian.
Theo quan điểm của Naila Kabeer, giới được hiểu là quá trình mà bằng cách đó các cá nhân được sinh ra trong những phạm trù sinh học của đàn ông và đàn bà 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trở thành những phạm trù xã hội về phụ nữ hoặc nam giới thông qua việc đạt được những phẩm chất được xác định bởi nam tính và nữ tính. Giới là một sản phẩm của xã hội văn hóa. Giới biểu hiện bởi tính lịch sử và tính xã hội. Vấn đề giới hiện diện một cách khách quan trong xã hội và vận động, biến đổi cùng sự vận động, biến đổi của lịch sử.
Vai trò giới được xác định theo văn hóa, không theo khía cạnh sinh học. Giới không chỉ đề cập đến nam và nữ, mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ. Trong mối quan hệ ấy, có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới. Giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính.
Trong khi “con trai” hay “con gái” là những yếu tố sinh học thì việc trở thành một phụ nữ hay một nam giới là một quá trình văn hóa. Giới được tạo thành không chỉ trong gia đình mà trong cấu trúc của tất cả các thiết chế xã hội chủ yếu hay nói cách khác, vai trò giới đã được xã hội hóa. Chính điều này đã ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của cả hai giới. Trong hoạt động quản lý, lãnh đạo, các khuôn mẫu giới đã ảnh hưởng tới năng lực lãnh đạo của cả hai giới.
(Điều này sẽ được chứng minh trong nghiên cứu ở chương 2) Nói tóm lại, giới (gender) là một khái niệm, một phạm trù, một điều kiện, một thành tố then chốt khi xem xét sự phân tầng xã hội, là một công cụ để xem xét và phân tích một thể chế. Nhưng giới đồng thời cũng là một sự nhận thức hay quan điểm chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và nữ giới. Nhận thức đúng đắn về giới, thay đổi các quan điểm về giới và hành vi của các giới sẽ tạo ra bình đẳng cho cả hai giới tham gia tích cực vào các hoạt động trong đời sống xã hội. Bình đẳng giới Theo quan điểm của World Food Progamme: “Bình đẳng giới là một thuật ngữ phản ánh một sự chia sẻ bình đẳng về quyền lợi giữa nam và nữ giới, trong sự tiếp cận bình đẳng của họ về giáo dục, sức khỏe, quản lý và lãnh đạo, bình đẳng về tiền lương, về số đại biểu quốc hội và về những cái khác” Theo quan điểm của ngân hàng thế giới WB: “Bình đẳng giới là sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong trả lương/ thù lao công việc và trong tiếng nói.” 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo điều 5 luật bình đẳng giới của Việt Nam: “Bình đẳng giới là việc nam và nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.” Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, bình đẳng giới được hiểu là bằng nhau, ngang nhau và như nhau trên các lĩnh vực cơ bản của cuộc sống.
Bình đẳng giới trong chính trị là bình đẳng về cơ hội, điều kiện, cách tiếp cận giữa nam giới và nữ giới, làm sao hai giới phát huy được các quyền của mình trong đời sống chính trị như quyền bầu cử, ứng cử, quyền được đào tạo, bổ nhiệm…. Thực hiện bình đẳng giới trong chính trị là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Sự bình đẳng nam – nữ trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam được thể hiện ở những điểm sau: 1. Nam và nữ bình đẳng với nhau trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.
Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan. Nam, nữ bình đẳng trong bầu cử, ứng cử vào các tổ chức của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức. Bình đẳng giới có hai bình diện: Bình đẳng trong các quyền cơ bản và bình đẳng trong cơ hội phát triển.
Bình đẳng trong các quyền cơ bản được thể hiện ở sự bình đẳng ở các lĩnh vực của đời sống xã hội và đời sống chính trị như các quyền về kinh tế, quyền về chính trị, văn hóa, giáo dục…Đảm bảo được các quyền cơ bản cho cả hai giới là đảm bảo được những điều kiện sống tối thiểu cho họ. Bình đẳng trong cơ hội phát triển là một điểm then chốt trong quan niệm mới về công bằng. Các quyền cơ bản và các cơ hội phát triển của cả hai giới được pháp luật nước ta quy định khá rõ ràng, chi tiết. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân lịch sử, xã hội và văn hóa cho nên phụ nữ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại khi tham gia vào đời sống chính trị xã hội, đặc biệt là tham gia hoạt động quản lý, lãnh đạo.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xuyên suốt lịch sử loài người và trải qua các nền văn hóa thì quyền lãnh đạo luôn gắn liền với đàn ông. Quyền lực là công việc của đàn ông. Nhưng thông qua các cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới, nữ giới đã và đang tham gia vào lãnh địa vốn được coi là lãnh địa độc quyền của nam giới - lãnh địa chính trị và họ đã khẳng định được vị thế, vai trò của mình trong các hoạt động chính trị. Tuy nhiên sự tham gia vào đời sống chính trị của giới nữ còn có những bất tương xứng cả về số lượng và chất lượng.
Bất bình đẳng giới “Bất bình đẳng giới là một hiện tượng nảy sinh trong quá trình phát triển của nhân loại. Bất bình đẳng giới là sự không ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới và nữ giới, giữa các nhóm nữ giới và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận các nguồn lực và sử dụng, hưởng thụ những thành quả xã hội” [53,tr.101] Bất bình đẳng giới chính là sự phân biệt, đối xử theo địa vị, quyền lực và uy tín giữa nam giới và nữ giới trong xã hội. Sự phân biệt đối xử theo giới đã phản ánh những thiên vị về giới. Sự tiếp cận của nữ giới với quyền lực kinh tế và chính trị còn xa với tương xứng với số lượng, nhu cầu và những đóng góp của họ.
Nhiều thế kỷ đã qua, nam giới được xã hội hóa để thực thi quyền uy, nữ giới được xã hội hóa để phục tùng quyền uy. Đây là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu để khắc phục. Hiện tượng bất bình đẳng giới hiện nay vẫn xuất hiện với một phổ khá rộng từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Phụ nữ là những người đóng góp lớn cho gia đình và xã hội song đa phần các chức vụ quan trọng vẫn do nam giới nắm giữ, nam giới được coi là “trụ cột” gia đình, ở cơ quan nam giới là thủ trưởng, là những nhà lãnh đạo đầy quyền uy, phụ nữ vẫn chỉ là những người phục tùng quyền uy.
Điều này ảnh hưởng sâu sắc tới các hoạt động tham gia quản lý, lãnh đạo của phụ nữ. Bình đẳng giới không chỉ là vấn đề của phụ nữ, vì phụ nữ, do phụ nữ thực hiện mà là vấn đề đòi hỏi sự tham gia của cả nam và nữ, của cả cộng đồng xã hội để đảm bảo quyền lợi hài hòa, ổn định giữa các cá nhân trong xã hội. Định kiến giới “Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò, năng lực của nam hoặc nữ” [28,tr. Các định kiến giới là một tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho nam giới hay nữ giới.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những định kiến về nữ giới cho rằng, phụ nữ yếu đuối, tự ti, thụ động, thứ yếu, phụ thuộc và là người không có tính ra quyết định, ngược lại những đức tính mạnh mẽ, độc đoán.lại được “khoác” lên định kiến đối với nam giới.