Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN KHẢO SÁT VÀ NGHỆ THUẬT CHÈO 1. Địa bàn khảo sát 1. Sơ lược vài nét về Hưng Yên Hưng Yên là vùng đất nằm ở tả ngạn sông Hồng của vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ. Phía Đông giáp Hải Dương.
Phía Tây và Tây nam giáp Hà Đông và Hà Nam. Phía Nam giáp với Thái Bình. Phía Tây bắc và Bắc liền kề với Thủ đô Hà Nội và Bắc Ninh. Hưng Yên là vùng đất bằng phẳng không có biển, không có rừng và đồi núi.
Ba phía của tỉnh đều có sông: phía Tây là sông Hồng, phía Nam là con sông Luộc, phía Đông là sông Cửu An, giáp Hải Dương. Có thể nói, Hưng Yên là mảnh đất phì nhiêu màu mỡ, do phù sa của các con sông bồi đắp. Hưng Yên không chỉ thuận lợi về giao thông đường thủy mà còn có thế mạnh về giao thông đường bộ. Về đường bộ, Hưng Yên có quốc lộ 5 và tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng.
Ngoài ra còn có tuyến đường 39A đi qua tỉnh Hưng Yên, qua cầu Triều Dương sang Thái Bình. Đường quốc lộ 39B lối phía Đông chạy sang Hải Dương, đầu phía Tây lối sang Hà Nam qua cầu Yên Lệnh để sang quốc lộ 1 lên Hà Nội. “Được thành lập vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), Hưng Yên gồm 2 phủ: Khoái Châu (Đông Yên, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ ) của trấn Sơn Nam và Tiên Hưng (Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà, Tiên Lữ) của trấn Nam Định, vốn là khu vực thuộc bộ Dương Tuyền thời Hùng Vương, huyện Chu Diên thời Bắc thuộc, phủ Thái Bình thời Ngô, Đinh và Tiền Lê, Khoái Lộ và Đằng Lộ, rồi Khoái Châu và Đằng Châu thời Lý, lộ Long Hưng và lộ Khoái thời Trần. Dưới thời thuộc Minh, vùng đất này thuộc phủ Kiến Xương”.
Phố Hiến - Hưng Yên cuối thế kỷ XVI và thế kỷ XVII được ví như “tiểu Tràng An”, là thương cảng đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài: “Thuyền bè ngược sông Hồng lên Thăng Long "Kẻ Chợ" đều phải dừng ở Phố Hiến đợi giấy phép, nên Phố Hiến trở thành tụ điểm sầm uất. Người Tàu, người Nhật và người Tây phương đều đến đây buôn bán. Do vậy dân gian đã có câu: "Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến"”. 8 Thương lái từ các nơi, các nước đổ về buôn bán đủ mọi mặt hàng: “Tơ lụa, vải vóc, vũ khí ngược kinh thành; quế chi, sa nhân, trầm hương xuôi về thương điếm, khách Tây, Tàu ra vào tấp nập.
Đúng là cảnh: Bến Nễ Độ gió nâng thuyền gấm Phố Bắc Hòa nguyệt ngắm rèm the Thủ đô hội trong ngoài chẳng thiếu Vạn Lai Triều là tiểu kinh đô.26] Sau rất nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính và sau 29 năm sáp nhập với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng. Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Hải Hưng lại được tách ra thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. Đến nay, tỉnh Hưng Yên có tất cả 10 đơn vị hành chính cấp huyện (thị xã Hưng Yên, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, Ân Thi, Khoái Châu, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Giang, Văn Lâm) với 164 xã, phường, thị trấn. Hưng Yên là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi đây đã sản sinh ra nhiều nhân vật tài giỏi xuất chúng, đã được lưu danh sử sách như: Triệu Quang Phục, tướng quân Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Công Trứ, danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Chu Mạnh Chinh, Hoàng Hoa Thám, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Linh….
Ngày nay, Hưng Yên là mảnh đất yên bình thơ mộng, còn lưu giữ rất nhiều di sản văn hóa tâm linh. Trong khối di sản văn hóa của cha ông để lại từ hàng nghìn năm trước, nổi bật là khối văn hóa vật thể với hệ thống đình chùa, đền, văn miếu, văn chỉ…dày đặc. Nhiều di tích được công nhận cấp Quốc gia như: quần thể di tích Phố Hiến, Văn Miếu, đền Đậu An, đền Chử Đồng Tử, Chùa Chông, Chùa Nôm…. Hàng năm thu hút một lượng khách du lịch rất lớn đổ về chiêm bái, cầu an….
Khái quát về huyện Kim Động 1. Đặc điểm dân cư và phát triển kinh tế Huyện Kim Động của tỉnh Hưng Yên nằm ở phía Tây nam tỉnh Hưng Yên. Phía Đông giáp huyện Ân Thi và huyện Tiên Lữ. Phía Tây giáp sông Hồng.
Phía Nam giáp thị xã Hưng Yên và phía Bắc giáp huyện Khoái Châu. 9 Theo Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động (1930 – 2005), Nxb Chính trị quốc gia (2010). Vào những thế kỷ đầu công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ. Thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu.
Thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến ngày nay. Qua nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, ngày nay huyện Kim Động đã ổn định cơ cấu tổ chức, với 17 đơn vị hành chính cấp cơ sở. Gồm 16 xã và 1 thị trấn đó là: thị trấn Lương Bằng và các xã: Chính Nghĩa, Phạm Ngũ Lão, Toàn Thắng, Ngọc Thanh, Đồng Thanh, Thọ Vinh, Đức Hợp, Mai Động, Vĩnh Xá, Nghĩa Dân, Phú Thịnh, Nhân La, Hiệp Vường, Hùng An, Vũ Xá, Song Mai. Tính đến năm 2010, dân số của huyện Kim Động là: 125.187 người và có tổng diện tích đất tự nhiên 11.
Trong đó đất nông nghiệp chiếm 7405,84 ha. Đất Kim Động được phân chia thành hai vùng rõ rệt: Vùng đất trong đê gồm các xã trồng lúa, kết hợp với trồng mầu vụ 3. Diện tích tự nhiên chừng 6.800 ha…Hàng năm, được tưới nước phù sa qua hệ thống đại thủy nông Bắc Hưng Hải, nên đất đai màu mỡ phì nhiêu. Đây là vùng đất trọng điểm của huyện, quyết định đến tổng sản lượng lương thực hàng năm của tỉnh.
Vùng đất ngoài đê có diện tích tự nhiên khoảng 4790 ha. Địa hình vùng này phức tạp hơn, ảnh hưởng đến khả năng khai thác. Toàn vùng chưa xây dựng được hệ thống thủy lợi, nên sản xuất phải phụ thuộc vào thiên nhiên. Người nông dân phải vất vả, cực nhọc để hạn chế và khắc phục hậu quả của lũ lụt: “Nhóm đất ngoài đê có diện tích canh tác trên 2.600 ha, hàng năm được phù sa sông Hồng bồi đắp nên có màu tươi, rất phì nhiêu màu mỡ.
Đây là vùng đất bãi trồng mầu lý tưởng cho các cây như: mía, đay, ngô, đậu tương, lạc, khoai lang…Do cây mầu phát triển tạo nguồn thức ăn xanh dồi dào cho chăn nuôi gia súc, đó là tiềm năng phát triển đàn bò lai sind”. Theo cuốn Kim Động, vùng Văn hóa dân gian đặc sắc của tác giả Xuân Thiêm – Đào Quang Lâm thì nguồn nước ở Kim Động vô cùng dồi dào, được cung cấp nước bởi 5 con sông đó là: sông Cửu An, Kim Ngưu, Điện Biên và sông Tân Hưng. Nguồn nước lớn nhất là từ sông Hồng bồi đắp phù sa cho cánh đồng ngoài đê và tưới tiêu cho cánh đồng trong đê. Sông Cửu An đầu nguồn đổ xuống, đảm bảo 10 tưới tiêu cho hàng nghìn ha gieo trồng lúa, đưa năng suất hai vụ lúa trên 12 tấn/ năm….
“Nước về tưới mát lúa khoai Đất vui đất nhẩy, quay hai ba vòng Quê tôi mát đất ấm lòng Nghĩa Dân gà lợn vẫy vùng đua vui” “Những điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu, thủy văn, nguồn nước kể trên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho Kim Động phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, đa dạng, phong phú về cây con, cây lúa, trồng ngô mẩy bắp. Phát triển chăn nuôi bò sinh sản và đàn bò thịt rất thuận lợi, nhất là trên vùng bãi”. Không chỉ thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp mà còn thuận lợi trong việc đánh bắt thủy sản rất dồi dào, đã đi vào ca dao: “Dốc Lã lắm bò Làng Gò lắm trâu Phượng Lâu lắm tiền Mai Viên lắm cá Mai xá lắm cua” “Đẹp vùng cá trứng Ngọc Thanh Bảo Châu cam đỏ trĩu cành nghiêng cây” Là huyện có chiều dài nằm giáp đê Sông Hồng, nên phân bố dân cư cũng phức tạp, không đồng đều. Các xã ngoài đê, dân thưa thớt hơn như ở xã Vĩnh Xá, xã Đức Hợp, dân sống cả ở trong và ngoài đê.
Kim Động, hơn chục năm trở lại đây, nhiều công ty, nhà máy, xí nghiệp mọc lên, đã thu hút một lực lượng lớn lao động trẻ vào ngành sản xuất công nghiệp. Kim Động có trục đường quốc lộ 39A chạy qua, nên thuận lợi về giao thông, buôn bán và phát triển sản xuất kinh tế. Các di tích văn hóa, lịch sử Là huyện nằm ở trung tâm nền văn minh châu thổ Sông Hồng, nên Kim Động mang đậm nền văn hóa lúa nước và có đời sống văn hóa tâm linh rất phong phú. Theo điều tra năm 2008 của tác giả Xuân Thiêm – Đào Quang Lâm trong cuốn 11 Kim Động vùng văn hóa dân gian đặc sắc thì Kim Động có 64 di tích, trong đó có 61 nơi diễn ra lễ hội văn hóa dân gian và 3 nơi là văn hóa tín ngưỡng.
Có 38 đình, 7 đền được chọn là nơi diễn ra lễ hội, mỗi nơi mang nét độc đáo riêng. Kim Động có 22 di tích xếp hạng cấp quốc gia. Trong đó, di tích được xếp hạng sớm nhất là đền Đào Xá, xã Vĩnh Xá (1989) và đình Phúc Ninh xã Hùng An (2006). Lễ hội truyền thống nơi đây được diễn ra hàng năm, đã thu hút không chỉ nhân dân bản địa mà cả nhân dân tứ xứ đổ về.
Còn in đậm trong câu ca dao của quê hương: “Vui nào bằng hội chùa Phương Bà con tứ xứ tìm đường về chơi” “Cho dù cha mắng mẹ rầy Chẳng sao vắng được cái ngày hội Bông…” Ngoài những giá trị văn hóa qua hệ thống các đình chùa, miếu. Kim Động còn có một di sản quý giá, là 8 cây cổ thụ quý hiếm, đặc sắc trên một trăm tuổi. Những cây này đã được các cơ quan chức năng - Văn hóa - Bảo Tàng tỉnh Hưng Yên kiểm tra thẩm định, trên các loại giá trị về: gía trị thẩm mỹ, giá trị văn hóa tâm linh, giá trị tôn giáo, tín ngưỡng và giá trị phồn thực. Qua đây có thể thấy, Kim Động có bề dầy văn hóa truyền thống, thể hiện qua một loạt những di sản văn hóa tâm linh.
Các tổ chức lễ hội diễn ra hàng năm, thu hút đông đảo bà con trong và ngoài vùng đến chiêm bái. Điều đó chắc chắn tạo nên một không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc, mang đậm văn hóa vùng miền, được thể hiện qua những phần hội trong các kỳ lễ hội của địa phương đã tạo điều kiện cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng phát triển.