Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Lịch sử (Lịch sử Việt Nam) với đề tài "Phong trào Đồng khởi ở tỉnh An Giang những năm 1960-1961" do sinh viên Trần Ka Ni thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Chơn Tuệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài tập trung tái hiện, phân tích và đúc kết toàn diện tiến trình lịch sử của phong trào Đồng khởi tại địa bàn một tỉnh biên giới Tây Nam Bộ.

Bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đế quốc Mỹ can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam, thiết lập chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự. Tại An Giang – vùng đất có vị trí địa - chiến lược quan trọng thuộc tam giác "Tây Ninh - Bảy Núi - U Minh", có đường biên giới dài 104 km giáp Campuchia và đặc thù đa dân tộc (Kinh, Khmer, Chăm, Hoa), đa tôn giáo (nơi phát tích Phật giáo Hòa Hảo, có đạo Cao Đài, Công giáo...) – chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến hành các chiến dịch "tảo thanh" giáo phái vũ trang, dồn dân lập "khu trù mật", "khu dinh điền", đồng thời thực hiện chính sách "tố cộng, diệt cộng" và thi hành Luật 10/59 đàn áp phong trào cách mạng khốc liệt.

Trước tình thế bị kìm kẹp nghiêm trọng, dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (tháng 1/1959), quân và dân An Giang đã chuẩn bị lực lượng, chớp thời cơ vùng lên tiến hành phong trào Đồng khởi. Tác giả lựa chọn đề tài xuất phát từ niềm đam mê nghiên cứu lịch sử dân tộc, mong muốn đóng góp tư liệu phục vụ giảng dạy môn Lịch sử tại trường phổ thông, đồng thời bù đắp khoảng trống nghiên cứu khi các công trình trước đây về Đồng khởi tại An Giang còn rải rác, manh mún do tư liệu thành văn bị hư hại qua chiến tranh.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận hướng tới giải quyết 3 mục đích nghiên cứu chính:

  1. Làm rõ bối cảnh lịch sử bùng nổ phong trào Đồng khởi ở An Giang trong những năm 1960-1961.
  2. Trình bày diễn biến và đánh giá kết quả đạt được của phong trào Đồng khởi tại các địa bàn huyện, thị của tỉnh An Giang.
  3. Tổng kết, đúc kết các đặc điểm riêng biệt và khẳng định ý nghĩa lịch sử của phong trào Đồng khởi tại An Giang đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận thực hiện 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Sưu tầm, thẩm định và chọn lọc hệ thống tư liệu từ các nguồn chính thống, bao gồm văn kiện Đảng, tài liệu lưu trữ, kỷ yếu hội thảo, lịch sử Đảng bộ địa phương và tư liệu hiện vật bảo tàng.
  2. Phân tích, đánh giá khách quan tiến trình đấu tranh, qua đó vạch trần âm mưu của Mỹ - chính quyền Ngô Đình Diệm và làm rõ vai trò, đóng góp của các tầng lớp nhân dân An Giang.
  3. Đúc kết đặc điểm nổi bật và ý nghĩa lịch sử của phong trào Đồng khởi trên địa bàn tỉnh, phát huy giá trị khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cuộc Đồng khởi của quân và dân tỉnh An Giang trong những năm 1960-1961.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh An Giang theo địa giới hành chính thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (bao gồm các huyện/địa bàn: Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Thành, Núi Sập, Châu Phú, Tân Châu, An Phú và Chợ Mới), có mở rộng liên hệ với bối cảnh chung của miền Nam và vùng Nam Bộ.
  • Phạm vi thời gian:
    • Trọng tâm từ tháng 9/1959 (sau Hội nghị mở rộng Tỉnh ủy An Giang tại Thường Phước, Hồng Ngự) đến tháng 3/1961 (cuộc nổi dậy của nhân dân xã Hội An, huyện Chợ Mới).
    • Khái quát bối cảnh lịch sử giai đoạn 1954-1959 để đảm bảo tính liên tục và hệ thống.
Tiêu chí phân định Phạm vi xác định trong khóa luận
Không gian nghiên cứu Tỉnh An Giang: 8 địa bàn trọng điểm (Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Thành, Núi Sập, Châu Phú, Tân Châu, An Phú, Chợ Mới).
Giai đoạn chuẩn bị lực lượng Tháng 9/1959 (Hội nghị Thường Phước) đến tháng 9/1960 (Hội nghị Gò Ôi Sáu Bền - Núi Tô).
Giai đoạn tiến hành Đồng khởi Tháng 9/1960 (sau Hội nghị Núi Tô) đến tháng 3/1961 (khởi nghĩa xã Hội An, huyện Chợ Mới).
Giai đoạn bối cảnh nền tảng 1954 – 1959 (từ sau Hiệp định Genève đến trước khi ban hành Nghị quyết 15).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận và khung tham chiếu

Khóa luận vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, khởi nghĩa vũ trang và bạo lực cách mạng. Hệ thống luận điểm được xây dựng dựa trên các văn kiện nền tảng:

  • Hồ Chí Minh toàn tập, Văn kiện Đảng toàn tập (Nghị quyết Trung ương 6 mở rộng năm 1954, Nghị quyết Bộ Chính trị số 70 năm 1956, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10 năm 1956, Hội nghị Trung ương 14 năm 1958 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 tháng 1/1959).
  • Đề cương cách mạng miền Nam (1956) của Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn, tác phẩm Thư vào Nam, và hồi ký quân sự Hòa bình hay chiến tranh của Thượng tướng Trần Văn Trà.
  • Các công trình thông sử và lịch sử quân sự: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (tập II), Lịch sử quân sự Việt Nam (tập 11), Địa chí An Giang, cùng nghiên cứu của sử gia phương Tây Kevin Ruane (War and Revolution in Vietnam, 1930-75).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp hai phương pháp chuyên ngành chủ đạo của khoa học lịch sử cùng các phương pháp bổ trợ liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện chuẩn bị và nổ ra Đồng khởi theo trình tự thời gian liên tục, làm rõ hoàn cảnh nảy sinh, điều kiện phát triển và diễn biến cụ thể tại từng địa phương.
  • Phương pháp logic: Phân tích bản chất, quy luật vận động, mối quan hệ nhân quả giữa chủ trương của Đảng với hành động cách mạng của quần chúng, từ đó rút ra các đặc điểm và ý nghĩa lịch sử.
  • Phương pháp liên ngành:
    • Điền dã lịch sử: Khảo sát thực địa tại các di tích lịch sử căn cứ Tỉnh ủy (đồi Tức Dụp, Hội trường C6, núi Tô, núi Dài), chùa Phước Hội (chùa Bà Lê - Chợ Mới), chùa Tà Miệt (Tri Tôn), cầu La Kết, mương Sung.
    • Sưu tầm - thẩm định hiện vật: Tiếp cận, chụp ảnh và xử lý tư liệu hiện vật tại Bảo tàng tỉnh An Giang, Nhà truyền thống Khu Di tích Lịch sử đồi Tức Dụp.
    • Phỏng vấn nhân chứng: Thu thập thông tin từ nhân chứng lịch sử và thân nhân cựu chiến binh (cụ Nguyễn Thị Khâu, gia đình cơ sở cách mạng nuôi giấu cán bộ).
    • So sánh, đối chiếu và thống kê: Đối chiếu số liệu giữa tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II) với Lịch sử Đảng bộ các huyện/thị nhằm đảm bảo tính xác thực.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về tình hình miền Nam Việt Nam từ sau Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương đến trước phong trào Đồng khởi (1954-1959)

Chương 1 phân tích bức tranh toàn cảnh về chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội của miền Nam và tỉnh An Giang trong 5 năm sau Hiệp định Genève:

  • Âm mưu của Mỹ và chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm tại miền Nam: Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền qua các Sắc lệnh số 37-QT, 38-QT và Dụ số 15 (1954), lập khối SEATO (9/1954), cử Joseph L. Collins triển khai kế hoạch 6 điểm. Viện trợ quân sự của Mỹ giai đoạn 1955-1959 đạt 864,9 triệu USD (chiếm gần 70% tổng viện trợ). Quân đội Sài Gòn phát triển lên khoảng 20 vạn quân vào cuối năm 1955; sân bay quân sự tăng từ 6 (năm 1954) lên 21 sân bay (năm 1956). Phái bộ cố vấn quân sự MAAG tăng từ 35 người (năm 1950) lên 1.600 người (năm 1954). Chính quyền Diệm tổ chức "trưng cầu dân ý" phế truất Bảo Đại (23/10/1955), ban hành Hiến pháp 1956, thiết lập nền cai trị gia đình trị độc tài.
  • Chính sách đàn áp và tội ác của Mỹ - Diệm: Thực hiện "quốc sách chống cộng", mở các chiến dịch "tố cộng, diệt cộng", đỉnh điểm là ban hành Luật 10/59 lập các Tòa án quân sự lưu động mang máy chém đi xử tử những người yêu nước. Từ 1954 đến 1960, trên toàn miền Nam có hơn 90.000 người bị sát hại, hơn 800.000 người bị bắt bớ, tù đày tại hơn 1.000 nhà tù. Về kinh tế, thực hiện "cải cách điền địa" tước đoạt ruộng đất của nông dân, lập 18 khu dinh điền ở Nam Bộ (tính đến năm 1958) và 19 khu trù mật (năm 1960) để gom dân kìm kẹp.
  • Phong trào cách mạng miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng: Từ đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève, đòi hiệp thương tổng tuyển cử (nông thôn có trên 7 triệu lượt người tham gia giai đoạn 1955-1956, phong trào Bảo vệ hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1954), phong trào dần chuyển biến sang hình thức tự vệ vũ trang sau Đề cương cách mạng miền Nam (1956) và bùng phát mạnh mẽ khi có Nghị quyết 15 (tháng 1/1959) xác định con đường khởi nghĩa giành chính quyền.
  • Đặc điểm tỉnh An Giang giai đoạn 1954-1959: Tỉnh có diện tích 3.536,6 km², nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long. Tại An Giang, chính quyền Ngô Đình Diệm càn quét các lực lượng giáo phái vũ trang (Hòa Hảo, Cao Đài), lập các khu trù mật, khu dinh điền (Ba Thê, Ba Chúc, Tân Châu, Vĩnh Xương). Dù phong trào cách mạng chịu tổn thất nặng nề, quần chúng nhân dân vẫn kiên trung bám trụ, nuôi giấu cán bộ Đảng qua các thời kỳ Bí thư Tỉnh ủy: Phạm Ngọc Bình, Nguyễn Kim Nha, Phạm Tấn Đạt, Nguyễn Văn Nê (Tư An).
Tình hình miền Nam & An Giang (1954-1959)

Chương 2: Quân và dân An Giang chuẩn bị lực lượng và tiến tới Đồng khởi (1960-1961)

Chương 2 trình bày chi tiết công tác tổ chức, xây dựng căn cứ và diễn biến chiến đấu của phong trào Đồng khởi tại từng địa bàn:

  • Chuẩn bị lực lượng (tháng 9/1959 đến tháng 9/1960):
    • Sau Hội nghị Thường Phước (tháng 8/1959), Tỉnh ủy An Giang triển khai xây dựng căn cứ địa cách mạng tại vùng rừng núi Bảy Núi (núi Tô, đồi Tức Dụp, núi Dài) và khôi phục hệ thống cơ sở bí mật trong quần chúng.
    • Thành lập và phát triển các lực lượng vũ trang: Kiện toàn các đội du kích xã, huyện đội Tri Tôn, Đại đội 12; lập công binh xưởng Tri Tôn sản xuất vũ khí tự tạo như súng ngựa trời, lựu đạn, mìn gài, chông sắt, chông tre.
    • Tích cực thực hiện công tác giao liên, vận tải vũ khí và tài liệu qua đường biên giới Việt Nam - Campuchia.
  • Diễn biến Đồng khởi (tháng 9/1960 đến tháng 3/1961):
    • Giữa tháng 9/1960, Tỉnh ủy An Giang họp Hội nghị mở rộng tại Gò Ôi Sáu Bền (núi Tô, Tri Tôn) phát động toàn tỉnh tiến hành Đồng khởi.
    • Tại huyện Tịnh Biên và Tri Tôn: Đồng bào Kinh, Khmer cùng lực lượng du kích đồng loạt nổi dậy bao vây đồn bốt, trừng trị ác ôn, phá vỡ các khu tập trung dân. Điển hình là trận tấn công tiêu diệt đồn Nhơn Hưng đêm 11/02/1961 của Tiểu đoàn L2 (được ghi nhận trong Công văn số 851/NA2/B/M của Tỉnh trưởng An Giang).
    • Tại các huyện Châu Thành, Núi Sập, Châu Phú, Tân Châu, An Phú: Quần chúng kết hợp lực lượng tự vệ mật rải truyền đơn, treo cờ Mặt trận, đánh phá trụ sở tề xã, diệt ác ôn kìm kẹp ngay sát trung tâm tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc (như vụ đột nhập cơ quan hành chính quận Châu Thành đêm 28/9/1960).
    • Tại huyện Chợ Mới: Cao trào diễn ra quyết liệt vào tháng 3/1961 tại xã Hội An; quần chúng phối hợp du kích phá hủy cầu La Kết, cầu Mương Sung, cắt đứt giao thông tiếp viện của đối phương, biến chùa Phước Hội (chùa Bà Lê) thành điểm tựa phòng thủ vùng giải phóng.
  • Kết quả đạt được:
    • Vùng giải phóng và căn cứ địa Bảy Núi được mở rộng, hình thành thế trận liên hoàn.
    • Hệ thống kìm kẹp cấp xã, ấp của chính quyền Ngô Đình Diệm bị phá vỡ từng mảng lớn.
    • Lực lượng vũ trang địa phương trưởng thành vượt bậc (tổ chức Đại hội du kích tỉnh An Giang 1960-1961); Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh An Giang chính thức ra đời ngày 20/02/1961 (ra mắt nhân dân ngày 30/03/1961 tại chùa Tà Miệt, Lương Phi, Tri Tôn).

Chương 3: Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào Đồng khởi ở An Giang

Chương 3 tổng kết lý luận và đúc rút những giá trị cốt lõi của phong trào:

  • Đặc điểm nổi bật của phong trào Đồng khởi ở An Giang:
    1. Khởi nghĩa nổ ra ở đợt thứ hai của toàn miền: Phong trào diễn ra chậm hơn một số tỉnh như Bến Tre (bùng nổ từ tháng 9/1960 đến tháng 3/1961) do tình thế cách mạng tại An Giang hiểm nghèo hơn, chịu sự kìm kẹp dày đặc của bộ máy tề ngụy và tác động phức tạp từ các tổ chức tôn giáo, giáo phái vũ trang bị địch lợi dụng.
    2. Diễn ra toàn diện trên cả ba vùng chiến lược: Đồng khởi diễn ra đồng thời ở vùng rừng núi (Bảy Núi, Tri Tôn, Tịnh Biên), vùng nông thôn đồng bằng (Chợ Mới, Châu Phú, Tân Châu, Phú Tân, An Phú) và thâm nhập uy hiếp vùng đô thị (thị xã Long Xuyên, Châu Đốc) bằng "ba mũi giáp công" (quân sự, chính trị, binh vận).
    3. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc và tôn giáo: Huy động đông đảo đồng bào dân tộc Khmer, các sư sãi, đồng bào Chăm, Hoa cùng các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài tham gia đóng góp sức người, sức của, vũ khí tự tạo cho cách mạng.
    4. Khai thác hiệu quả tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia (104 km): Tận dụng tuyến biên giới làm địa bàn đứng chân, cất giấu lực lượng, vận chuyển vũ khí và xây dựng hành lang giao liên an toàn; đồng thời đấu tranh làm thất bại âm mưu chia rẽ dân tộc của địch (như việc địch lôi kéo lực lượng Khmer Srei).
  • Ý nghĩa lịch sử:
    • Làm sụp đổ từng mảng lớn chính quyền cơ sở địch, chuyển phong trào cách mạng tỉnh An Giang từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công chủ động.
    • Chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối cách mạng bạo lực theo Nghị quyết 15 của Đảng tại một địa bàn biên giới Tây Nam Bộ có tính chất đặc thù.
    • Đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của phong trào Đồng khởi toàn miền Nam, tạo tiền đề xây dựng căn cứ địa vững chắc cho các giai đoạn kháng chiến tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã khôi phục bức tranh lịch sử chân thực, hệ thống về phong trào Đồng khởi tại tỉnh An Giang thông qua các cứ liệu cụ thể:

  • Làm rõ quá trình chuyển hướng chỉ đạo từ đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh quân sự của Tỉnh ủy An Giang qua hai mốc hội nghị quan trọng: Hội nghị Thường Phước (tháng 8/1959) và Hội nghị Gò Ôi Sáu Bền (tháng 9/1960).
  • Khảo sát chi tiết mạng lưới căn cứ địa tại khu vực Bảy Núi (đồi Tức Dụp, căn cứ Tỉnh ủy, Hội trường C6) và các công xưởng chế tạo vũ khí địa phương (công binh xưởng Tri Tôn).
  • Xác minh diễn biến chiến đấu tại từng địa bàn qua tài liệu thực địa và hồ sơ lưu trữ: Trận đánh đồn Nhơn Hưng (11/02/1961), trận đột nhập Dinh Tỉnh trưởng Long Xuyên (28/9/1960), trận đánh cầu La Kết và mương Sung tại xã Hội An (tháng 3/1961).
  • Khai thác trọn vẹn văn bản gốc lịch sử: Lời hiệu triệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh An Giang ban hành ngày 20/02/1961 và danh sách 10 thời kỳ Bí thư Tỉnh ủy An Giang từ 1954 đến 1976.

Đóng góp khoa học của đề tài

  • Bổ sung tư liệu lịch sử địa phương: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống cao tại Khoa Lịch sử - Trường ĐH Sư phạm TP.HCM về phong trào Đồng khởi tỉnh An Giang, khắc phục sự phân tán của các nguồn tài liệu trước đó.
  • Đúc kết đặc trưng lý luận: Khái quát sắc nét 4 đặc điểm mang tính quy luật và đặc thù của phong trào cách mạng tại một địa bàn đa dân tộc, đa tôn giáo có đường biên giới quốc tế.
  • Giá trị thực tiễn giáo dục: Cung cấp hệ thống 46 hình ảnh, bản đồ, lược đồ và hiện vật lịch sử có giá trị trực quan cao, phục vụ hiệu quả cho công tác giảng dạy môn Lịch sử địa phương tại các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, nhiều tài liệu thành văn gốc cấp huyện/xã bị thất lạc hoặc hư hỏng.
    • Số lượng nhân chứng lịch sử trực tiếp tham gia phong trào 1960-1961 còn sống không nhiều do tuổi cao, sức yếu, ảnh hưởng đến khả năng khai thác sâu một số trận đánh cục bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu phong trào Đồng khởi tại An Giang với các tỉnh khác trong khu vực Tây Nam Bộ (như Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Cần Thơ).
    • Khai thác sâu hơn khối tư liệu lưu trữ phía bên kia chiến tuyến tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II về các báo cáo quân sự của Tiểu khu An Giang và quận Chợ Mới giai đoạn 1960-1962.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Địa phương học.
  • Giáo viên Lịch sử trường phổ thông: Đặc biệt là giáo viên tại tỉnh An Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cần tư liệu giảng dạy phần Lịch sử địa phương hoặc Lịch sử phong trào Đồng khởi 1959-1960.
  • Ban Tuyên giáo các cấp: Tham khảo số liệu, sự kiện và danh mục hiện vật để biên soạn, chỉnh lý các ấn phẩm Lịch sử Đảng bộ địa phương cấp huyện, xã.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao phong trào Đồng khởi ở An Giang lại bùng nổ muộn hơn (tháng 9/1960 - tháng 3/1961) so với Bến Tre?

Do tình thế cách mạng tại An Giang hiểm nghèo hơn. Chính quyền Ngô Đình Diệm thiết lập mạng lưới kìm kẹp dày đặc, mở nhiều chiến dịch càn quét khốc liệt và triệt để lợi dụng mâu thuẫn tôn giáo, lôi kéo một bộ phận tín đồ giáo phái (như Hòa Hảo) để chống phá cơ sở cách mạng, khiến các tổ chức Đảng tại cơ sở chịu tổn thất nặng nề, đòi hỏi thời gian dài hơn để củng cố và xây dựng lại lực lượng.

2. Các mốc hội nghị nào mang tính quyết định đối với công tác chuẩn bị Đồng khởi ở An Giang?

Có hai hội nghị trọng yếu:

  • Hội nghị mở rộng Tỉnh ủy tại Thường Phước (tháng 8/1959): Quán triệt Nghị quyết 15 của Trung ương, chủ trương xây dựng căn cứ địa Bảy Núi và phát triển lực lượng tự vệ vũ trang.
  • Hội nghị mở rộng Tỉnh ủy tại Gò Ôi Sáu Bền - núi Tô (tháng 9/1960): Chính thức phát động toàn quân và toàn dân trong tỉnh vùng lên tiến hành cuộc Đồng khởi.

3. Đồng bào dân tộc thiểu số và các tôn giáo tại An Giang có đóng góp gì nổi bật trong phong trào?

Đồng bào Khmer và các vị sư sãi tại vùng Bảy Núi (Tri Tôn, Tịnh Biên) là lực lượng nòng cốt bảo vệ căn cứ, tham gia biểu tình chính trị và trực tiếp chiến đấu. Đồng bào Chăm, Hoa cùng đông đảo tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tiến bộ đã tích cực quyên góp đồng đúc đạn, che giấu cán bộ, đào hầm bí mật (như hầm nuôi giấu cán bộ tại chùa Phước Hội - Chợ Mới) và nổi dậy giải phóng xóm làng.

4. Tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia có ý nghĩa như thế nào đối với cách mạng An Giang thời kỳ này?

Tuyến biên giới dài 104 km đóng vai trò là hành lang an toàn giúp cán bộ, thanh niên lánh tránh sự khủng bố của Luật 10/59 trước khi khởi nghĩa, đồng thời là tuyến đường giao liên huyết mạch để tiếp nhận cán bộ, vũ khí và vận chuyển quân nhu chi viện cho phong trào toàn tỉnh.

5. Khóa luận sử dụng những hiện vật lịch sử tiêu biểu nào để minh chứng cho phong trào?

Khóa luận khai thác 46 hiện vật/hình ảnh tiêu biểu tại Bảo tàng An Giang và Đồi Tức Dụp, bao gồm: Súng ngựa trời do công binh xưởng Tri Tôn chế tạo (1960), mô tre đánh giặc của ông Võ Văn Minh, thùng cái 2 đáy giấu truyền đơn của ông Đinh Kim Anh, bàn sắc thuốc giấu đạn của ông Lê Văn Giai, và tượng đồng do nhân dân xã Hội An đóng góp để đúc đạn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Ka Ni đã tái hiện một cách khoa học, chân thực tiến trình chuẩn bị, bùng nổ và thắng lợi của phong trào Đồng khởi tại tỉnh An Giang trong những năm 1960-1961. Công trình làm nổi bật nghệ thuật kết hợp ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết dân tộc - tôn giáo và vai trò hiểm yếu của căn cứ Bảy Núi cùng tuyến biên giới Tây Nam. Đây là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và giáo dục thực tiễn sâu sắc, đóng góp thiết thực vào việc nghiên cứu lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước của địa phương và dân tộc.