Chương 1. Khái quát về tình hình miền Nam Việt Nam từ sau Hiệp định Genẻve năm 1954 về Đông Dương đến trước phong trảo Đồng khới (1954-1959), Chương 2. Quân va din An Giang chuẩn. ¡ lực lượng vả tiến tới Đồng khởi (1960-1961).
Đặc điểm vả ý nghĩa lịch sử của phong trảo Đồng khởi ở An Giang. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH MIỄN NAM VIỆT NAM TỪ SAU HIỆP ĐỊNH GENEVE NAM 1954 VE DONG DUONG DEN TRƯỚC PHONG TRAO DONG KHOI (1954-1959) 1. Tình hình chung của miền Nam Việt Nam (1954-1959) 1. Âm mưu của Mỹ và chính sách của chính quyễn Ngé Đình Diệm Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân đân ba nước Đông Dương kết thúc thẳng lợi bằng chiến thắng Điện Biển Phú lich sử vả việc ký kết Hiệp định Genève về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (từ đây gọi là Hiệp định Geneve năm 1954) vào ngây 21/7/1954, buộc được nước Pháp phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của ba dân tộc Dông Dương.
Đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cất thành hai miễn với vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời: Miền Bắc Việt Nam thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, miền Nam Việt Nam do Pháp và chính quyền đặt tại Sài Gòn kiểm soát, Việc thống nhất đắt nước sẽ được tiến hành bằng một cuộc tông tuyển cử trong cá nước đự kiến được tô chức vào tháng 7/1956. Mặc dù “liệt Nam và Đồng Dương độc lập, hỏa bình, thẳng nhất không bao giở là mỗi đe dọa nền an ninh nước Mỳ cách nứa vòng trái đất" (Hoàng Phương, 2019, tr20) nhưng Mỹ lại thực hiện âm mưu “biển miền Nam Việt Nam thành chất chặn làn sóng cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc đang lớa mạnh ở chau A” (Trin Bach Đẳng, 2011, tr. Bởi Mỹ cho rằng nếu mình “buông lóng thì nhất định miền Nam Hiệt Nam sẽ đi ngay vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản” (Lê Duẫn, 2005, tr30). Có thể thấy miền Nam Việt Nam có một vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách ngăn chặn chủ nghĩa ng sản sau Chiến tranh thể ới thứ hai của nước Mỹ.
Thực chất ngay tử năm 1947, Đại sứ quán Mỹ ở Paris (Pháp) đã nhận được yêu cầu tìm kiếm thông tin những nhân vật Việt Nam để chuẩn bị thành lập chính phủ thân Mỹ về sau. Bằng các văn bản như "Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương” (tháng 12/1950), “Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt - Mỹ” (tháng 9/1951) và “Hiệp nghị an ninh chung” (tháng 12/1951) được kỷ kết giữa Mỹ với Pháp và giữa Mỹ với Bảo Đại, Mỹ đã từng bước gia tăng sự can thiệp tại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung bằng những khoán viện trợ khỏng lồ. Chỉ trong 04 năm trong giai đoạn 1950-1954, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 2,6 tỷ dollar Mỹ (USĐ) để thực hiện cuộc chiến tranh tại Đông Dương (Quốc hội, n.d, tập II), chính phủ Bảo Đại cũng được nhận 36 triệu USD tiền mật, 23 triệu USD hàng hỏa vả 15 triệu USD vũ khi (Trần Đức Cường, 2014. Ngay tử ngày 06/7/1954, tức là ngay trước khi Hiệp định Genẻve năm 1954 được ký kết, chính quyền Ngô Dình Diệm được lập nên ở Sài Gòn dưới sự hậu thuần của Mỹ.
Mỹ đã thúc ép Pháp “phải ủng hộ một chính phú bản xử mạnh” (Lê Hồng Lĩnh, 2012, tr.55), còn Bảo Đại buộc phải ký liên tiếp 02 sắc lệnh là Sắc lệnh số 37-QT giải tán chính phù của hoàng thân Bửu Lộc vả Sắc lệnh số 38-QT chỉ định Ngô Đình Diệm về nước. làm Thú tướng, đồng thời ra Dụ số 15 chính thức bổ nhiệm chức Thủ tướng của Diệm, có toản quyền về dân sự lẫn quân sự ở Nam Việt Nam. Đến khi Hiệp định Genẻve năm 1954 được kỷ kết xong, Mỹ lại tìm cách phá hoại. bởi Mỹ cho rằng bản thin “khong tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genve và không bị rằng buộc vào những quyết định dy” (Hoang Phuong, 2019, tr.
Nghĩa là giờ đây Mỹ sẽ ngang nhiên không chấp nhận thi hành các điều khoản của Hiệp định Genẻve năm 1954, kể cả việc tô chức hiệp thương tổng tuyến cứ để thống nhất hai miễn, trái lại, Mỹ sẽ xúc tiễn kế hoạch xâm nhập miễn Nam Việt Nam để thay thể Pháp. Chính một Giáo sư Sử học người Anh là Kevin Ruane đã nhận định rằng "với vai (rỏ là Thứ tướng của Ngô Đình Diệm, Mỹ đã tìm thấy một kẻ đẳng lõa sẵn sàng hơn trong nỗ lực phá vờ hiệp định”" (Ruane, 2005, tr.37), Bản thân Diệm ngày 16/7/1955 cũng viện cớ *ở miễn Bắc không thể có tuyển cử tự do" (Trần Bạch Đằng, 201, tr.24) để từ chỗi hiệp thương với Chính phú Việt Nam Dân chủ Cộng hỏa về tổ chức tổng tuyển cứ. Để thực hiện mục tiêu đó, Mỹ đã hắt căng Pháp ra khỏi miễn Nam bằng một yêu cầu được đưa ra vào ngảy 08/8/1954. Theo đó, Mỹ sẽ trực tiếp viện trợ cho chính quyền.
Ngô Đinh Diệm không thông qua Pháp. trực tiếp chỉ huy vả huắn luyện quân đội Sải Gòn, buộc Pháp rút hết quản đội khỏi miễn Nam, loại bỏ Báo Đại vả những ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam. Tháng 9/1954, Mỹ lập ra Tỏ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) nhằm “chóng lại Hiệp định Genéve vita được kỷ kết, đặt miễn Nam Viét Nam, Lào và Campuchia dưới õ bảo lộ của tổ chức này" (Trần Bạch Đẳng, 2011, tr. Ngày 17/11/1954, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ là Joseph L.
Collins được cử đến Sài Gòn làm Đại sứ, thực thi một kế hoạch 06 điểm về sau được gọi là "kế hoạch Collins” (Trằn Đức Cường, 2014. Xét về bản chất, viên Đại sứ nảy không khác gì Toàn quyền hay Cao ủy của Pháp trước kia ở Dông Dương, chẳng qua đây là hình thức của chế độ thực dân kiều mới ở một thuộc địa kiều mới với mức độ tình vi cao hơn. Rõ rằng Mỹ đã đưa vào miễn Nam Việt Nam một hình thức thống trị mới mả ở đó cỏ một chính quyền Ngô Đỉnh Diệm và một viên Đại sử người Mỹ với đặc điểm là "sở được thực hiện không phải bằng hệ thẳng cai trị trực tiếp của bọn đề quốc mà thông tá Minister, Ngo Dinh Diem, the United States found a more than willing accomplice in its efforts to circumvent the accords” (Ruane, 2005, 1.37) 10 qua một chính quyên tay' sai đại biểu quyên lợi cho giai cấp địa chủ phong kiển và tư sản mại bản khoác áo "dân tộc dân chú á hiệu” (Lê Duẫn, 2013, tr23). Về xây dựng chính quyền.
Mỹ đã cử một đoản gồm 54 có vẫn cp cao (Trin Dire Cường, 2014, tr.167) sang giúp chính quyền Ngô Đình Diệm trong việc lập pháp, tổ chức quân đội, cảnh sát, tổ chức hành chính, định ra các chế độ kinh tế. véi mye tiểu cao nhất là phải lập lên một chính quyền riêng biệt ở miễn Nam Việt Nam, một chính quyền đủ mạnh và có hình thức “độc lập, dân chủ” dé thực hiện chủ nghĩa thực dân mới. Khẩu hiệu “da thực, bài phong, điệt cộng” cũng được chính quyền Ngô Đình Diệm để ra để mị dân. Thông qua chính quyền ấy mà Mỹ có thể dễ đàng hơn trong việc phả hoại việc thống nhất hai miễn.
vĩnh viễn chia đôi nước Việt Nam. Ngày 23/10/1955, để quốc Mỹ vả chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dâný chỉ ở riêng Sải Gòn để phế truất Báo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên lảm Tông thống. Liên quan vẻ cuộc "trưng cầu dân ý” này, Kevin Ruane đã có nhận định mang tỉnh châm biếm và mia mai rằng đây là một “chiến thẳng áp đáo (nhưng gân như chắc. chẩn là gian lận)"! (Ruane, 2005, tr39).
Ngày 29/10/1955, Ngõ Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 04-TTP nhằm thành lập chính phủ đầu tiên của chỉnh thể Việt Nam Cộng $a với bộ mảy hảnh chính theo kiểu “dân chủ Mỹ”. Hơn 01 tháng sau đó (ngày 26/11/1935), chính quyền Ngô Đình Diệm công bề *Hiến ước tạm thời” vẻ việc thành lập một “Uỷ ban soạn thảo dự ản Hiến pháp của Quốc gia Việt Nam” âm mưu biến miễn Nam thành quốc gia riêng biệt; tuyên bố thành lập chế độ cộng ho. Tiếp đó, ngảy 04/3/1956, còn tô chức bầu “Quốc hội” riêng rẻ vả ngày 26/10/1956, công bố “Hiến pháp nước Việt Nam Cộng hoả", văn kiện này mang đến cho chỉnh quyển Ngô Đình Diệm một giá trị pháp lý, nhằm hợp thức hóa quyền thống trị đã được thực thỉ tử trước khi có hiển pháp. Những điểu nảy là hoản toản đi ngược lại tỉnh thần thống nhất hòa bình bằng tổng tuyển cử cả nước được để cập trong Hiệp định Genẻve năm 1954, Bộ máy hảnh chính ở miền Nam dưới sự cai trị của chỉnh quyển Ngô Đình Diệm ôm các cấp: Phần, tỉnh, đô thành và thành phố, quận, tổng, xã.
Sau đó, lại chia các xã thành nhiều thôn bay ấp, lập các khóm “Liên gia tương trợ” và “Đoản thân dân tự vệ” mả mục đích không cỏ gì khác là nắm chắc để khống chế vả đản áp nhân dân. Theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22/10/1956 của chính quyền Ngô Đình Diệm, toản bộ lãnh thỏ miễn Nam lúc này cỏ 35 tỉnh (Công thông tin điện tử Thửa Thiên - Huế, n. 'Về quân sự, trong suốt giai đoạn 1955-1959, viện trợ quân sự của Mỹ dành cho chính quyền Ngô Đình Diệm là 864,9 triệu USD, chiếm gần 70% trong tổng số viện trợ (Tran Đức Cường, 2014, tr. Nhờ vào nguồn viện trợ không lỗ nảy, chính quyền i! i y ‘Dai in a referendum to choose a President to lead a new Republic of Vietnam (RVN)" (Ruane, 2005, tr 39), u Ngõ Đỉnh Diệm đã xây dựng được một lực lượng quân sự đồng đảo với tên gọi là "Quân đội Việt Nam Công hòa”, nếu “đâu năm 1955, mới thành lập 03 sự đoàn đầu tiên là lẻ su dodn 11,21 va 31° (Trần Đức Cường, 2014, tr.189) thì đến cuối năm 1955, quân đội Sài Gòn lúc đỏ đã có đến khoảng 20 vạn quân (Trần Văn Trả, 2020, tr.75) gồm */0 sư đoàn, (01 liên đoàn nháy dù, 04 trung đoàn ky bình kết hợp thiết giáp.
I1 tiểu đoàn pháo, 13 trung đoàn địa phương, 06 trung đoàn bộ bình giáo phái và một số đơn vị thuộc quân chúng hải quân và không quân” (Trần Đức Cường, 2014, tr. Mỹ cũng thiết lập một hệ thông cổ vấn quân sự tại miền Nam nhằm nắm quyền chỉ huy thực chất của quân đội Sải Gòn. Lực lượng có vấn nảy của Mỹ có tên là “Phái bộ viên trợ quân sự"! (MAAG), nếu năm 1950 chỉ có 35 người thi dén thang 4/1954 đã tăng lên 1.600 người (Trần Đức Cường.188), đây chính là Bộ Tư lệnh Quân sự của Mỹ ở miễn Nam Việt Nam. Mỹ cũng tập trung vào việc cung cấp các trang thiết bị, vũ khí quân sự để hỗ trợ.