Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Phòng tránh xâm hại tình dục (PT XHTD) là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm, vấn đề chung của toàn cầu, không của riêng quốc gia nào. Để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp PT XHTD đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này.
Sau đây là một số công trình nghiên cứu về vấn đề PT XHTD nói chung và PT XHTD HS nói riêng. Hướng thứ nhất: Những nghiên cứu về thực trạng xâm hại tình dục trẻ em trên bình diện chung. Từ năm 1999, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thực hiện một báo cáo tham vấn về phòng ngừa lạm dụng tình dục trẻ em và đưa ra định nghĩa xâm hại tình dục trẻ em, được khá nhiều tài liệu và các nghiên cứu khác tham khảo, trích dẫn lại, đó là: “xâm hại tình dục trẻ em là việc lôi kéo trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục mà trẻ em đó không hiểu một cách đầy đủ, không có khả năng quyết định ưng thuận một cách có hiểu biết, hoặc hành động diễn ra giữa một trẻ em với một người trưởng thành hoặc với một trẻ em khác mà do độ tuổi và mức độ phát triển, người này có mối quan hệ trách nhiệm, tin tưởng hoặc quyền hành với trẻ, và hành động gây ra nhằm thỏa mãn như cầu của người đó” [39]. Cũng theo các tài liệu của các tổ chức quốc tế thì xâm hại tình dục có thể thể hiện dưới nhiều dạng và nhiều mức độ khác nhau, chẳng hạn: Xâm hại trẻ bằng cách đụng chạm (làm tình sử dụng miệng, hôn hít hoặc ôm trẻ theo kiểu tình dục, giao hợp hoặc làm tình qua đường hậu môn,sờ mó vào bộ phận sinh dục của trẻ hoặc bắt trẻ sờ mó vào bộ phận sinh dục của người lớn hoặc của một đứa trẻ lớn hơn, ép trẻ thực hiện hành vi mại dâm); Xâm hại trẻ bằng cách không đụng chạm (dùng lời nói hoặc tranh ảnh khiêu dâm để làm cho trẻ sốc, làm cho trẻ hưng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục, cho trẻ nghe hoặc nhìn những người khác làm tình, bắt trẻ đứng ngồi theo tư thế gợi dục để chụp ảnh, cho trẻ xem sách báo khiêu dâm) [47].
Mutua, Ong’ang’a H. Ouko (2017) trong công trình nghiên cứu (Child abuse influence on Lower Primary SchoolPupil’s Academic 5 achievement in arural setting in Kenya), đã chỉ ra rằng lạm dụng trẻ em là một hành động gây ra thương tích nghiêm trọng đến thân thể và tra tấn về mặt tinh thần tình cảm vào trẻ em, là cố ý hoặc vô ý và có thể gây nguy hiểm cho thân thể, sức khoẻ, tình cảm, đạo đức và quá trình giáo dục cho trẻ. Nghiên cứu này báo động tình trạng trẻ em ở các trường tiểu học bị lạm dụng, nhóm nghiên cứu quan tâm đến việc điều tra lạm dụng trẻ em và những ảnh hưởng của nó đối với thành tích học tập của học sinh tiểu học ở Nyandarua, vùng nông thôn của Kenya. Bảng hỏi là công cụ chính được sử dụng để thu thập dữ liệu.
Kết quả phân tích dữ liệu thu thập được cho thấy, lạm dụng trẻ em về thể chất và tình dục có ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh. Từ đó các khuyến nghị đã được đưa ra về yêu cầu quản lý trường lớp, giáo viên, đề ra các giải pháp thích hợp có sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường và chính quyền địa phương [43]. Trong nghiên cứu của tác giả Allan John Kemboi ((Relationship between child abuse and academic performance in five selected Primary School in Suguta Zone of Samburu County),2013) đã chỉ ra các hình thức lạm dụng trẻ em, nguyên nhân, nhận thức của cộng đồng đối với lạm dụng trẻ em và ảnh hưởng của lạm dụng trẻ em đối với quá trình học tập của học sinh lứa tuổi tiểu học ở vùng Lorroki, vùng nông thôn nghèo khó của châu Phi. Nghiên cứu được tiến hành thông qua khảo sát số liệu với các đối tượng bao gồm học sinh, giáo viên từ 5 trường tiểu học, phụ huynh và chính quyền địa phương.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy lạm dụng trẻ em ở Loroki đã ảnh hưởng tiêu cực đến học tập của học sinh ở trường tiểu học. Việc lạm dụng trẻ em đã dẫn đến sự suy giảm hứng thú học tập của học sinh, giảm mức độ biết đọc biết viết của dân số trong vùng, và gia tăng số học sinh bỏ học, gia tăng sự chênh lệch về giới trong tiếp cận giáo dục đối với học sinh nữ [42]. Hướng thứ hai: Những nghiên cứu về phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ em và giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ em. Tại các quốc gia như Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, Thụy Điển đều có những chương trình hướng dẫn học sinh phòng tránh bị xâm hại từ khi trẻ 3 tuổi, và đặc biệt với độ tuổi 5-8 tuổi thì chương trình giáo dục trong nhà trường sẽ có tích hợp nội dung này hoặc thậm chí có hẳn một môn học riêng về giới tính và các mối quan hệ (Sex and Relationship Education) như ở Anh chẳng hạn (Austrian Aids & World Vision, 2014a; b; Goldman, 2013; Sinart King & Lynne Benson, 2006; Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển, 2014) [1].
Các nghiên cứu chuyên sâu đã khẳng định rằng trường học đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giáo dục về giới tính, an toàn cho trẻ vì trong nhiều nền văn hóa, ở nhiều quốc gia thì cha mẹ rất ngần ngại trong 6 việc giáo dục các nội dung này cho trẻ hoặc bản thân họ cũng không đủ hiểu biết, không đủ kỹ năng để truyền đạt cho con. Trong công trình nghiên cứu về Giao tiếp giữa mẹ và con về phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em (Mother-child communication about sexual abuse prevention), tác giả Walsh, K. (2012), cho biết có 212 bà mẹ Australia đã hoàn thành một cuộc khảo sát trực tuyến về vai trò của giao tiếp giữa mẹ và con về phòng, tránh lạm dụng tình dục trẻ em. Số lượng các chủ đề được thảo luận với con cái khác nhau tùy theo giới tính của trẻ em (số lượng lớn các chủ đề được thảo luận bởi các bà mẹ với cả trẻ nam và trẻ nữ) và độ tuổi (số lượng lớn các chủ đề được thảo luận bởi các bà mẹ có con từ 5-12 tuổi).
Những phát hiện này cung cấp những hiểu biết mới về giao tiếp giữa mẹ và con về phòng, tránh lạm dụng [45]. Các công trình nghiên cứu trong nước Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước về vấn đề này cũng khá phong phú nhưng vẫn còn nhỏ lẻ. Có thể chia các nghiên cứu trong nước thành các nhóm sau đây: Nhóm thứ nhất: Những nghiên cứu về thực trạng xâm hại tình dục trẻ em trên bình diện chung Trong những năm gần đây, vấn đề xâm hại tình dục trẻ em thu hút sự chú ý của xã hội. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu vào làm rõ thực trạng xâm hại tình dục trẻ em.
Tác phẩm đầu tiên cần phải nhắc đến là cuốn “Tội phạm và vấn đề tránh tội phạm (Lứa tuổi vị thành niên)” của nhóm tác giả Lê Văn Cương & cộng sự (1999) [7]. Ở cuốn sách này, các tác giả cho biết một thực tế là ở trường tiểu học, THCS, việc học sinh nam và học sinh nữ trêu ghẹo, cặp đôi nhau, tưởng như là chuyện trẻ con, nhưng đó chính là quấy rối tình dục, rồi đi đến xâm hại tình dục chỉ trong gang tấc. Nhóm tác giả đã nêu hiện tượng một số học sinh vào quán karaoke, hẹn nhau “làm thử”. Để rồi không ít vụ hiếp dâm trẻ em xảy ra và hiện tượng này không ngừng tăng lên trong những năm gần đây.
Nạn nhân của các vụ hãm hiếp trẻ em hầu hết là các em gái trong độ 10 - 13 tuổi, có trường hợp nạn nhân là bé gái 4 - 5 7 tuổi. Nhóm tác giả đã đưa ra minh chứng vào năm 1994 ở TP. Hồ Chí Minh có 55 vụ hãm hiếp trẻ em trên tổng số 107 vụ xâm hại tình dục, trong đó có 43 vụ nạn nhân dưới 13 tuổi. Phân tích các vụ án cho thấy, “kẻ phạm tội hiếp dâm trẻ em thuộc đủ các tầng lớp xã hội, với những nhóm tuổi khác nhau, hầu hết chưa xây dựng gia đình (66%), mù chữ hoặc học vấn thấp (70%)”.
Một điều đáng chú ý là trong số 107 vụ nêu trên có 82 vụ do thanh niên ở tuổi 18-30 gây ra, 10 vụ có thủ phạm ở tuổi vị thành niên. Đối với các em gái là nạn nhân, sự đau đớn về thể chất và tinh thần sẽ còn ám ảnh các em lâu dài trong cuộc sống. Vì các tác giả tiếp cận dưới góc độ điều tra viên và tội phạm học nên chưa có cái nhìn tổng thể về tâm lý, giáo dục và xã hội học, nên cần tiếp tục có những nghiên cứu đa ngành hơn. Hơn thế nữa, ngôn từ phân tích trong tư liệu cũng chưa phù hợp và đảm bảo tính chuyên môn cho những yêu cầu liên ngành nhất là ngành giáo dục.
Trong nghiên cứu “Nhận thức, hành vi của trẻ em đường phố đối với những nguy cơ và hành vi xâm hại tình dục trẻ em (Qua khảo sát tại Huế và Hà Nội”), tác giả Lê Thị Linh Chi (2007) cho rằng nhóm đối tượng dễ bị tấn công nhất với những hình thức xâm hại phổ biến, xu hướng khác biệt về giới trong nguy cơ xâm hại tình dục trẻ. Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy nhận thức của trẻ đường phố về vấn nạn xâm hại tình dục, phản ứng của các em trước thực trạng này và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của trẻ đối với những nguy cơ bị xâm hại tình dục. Ngoài ra, tác giả khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của trẻ đường phố trước nguy cơ và hành vi xâm hại tình dục, quá trình tiếp nhận thông tin ngoài xã hội và hiệu quả của các chương trình hành động phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em đã và đang triển khai hiện nay. Việc trẻ có nguy cơ bị xâm hại tình dục hay không cũng phụ thuộc vào gia đình [5].
Nhóm thứ hai: Những nghiên cứu về công tác phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ em và giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ em. Liên quan gần gũi đến giáo dục phòng tránh bị xâm hại cho trẻ em là lĩnh vực giáo dục về giới tính.