Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ CAO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Tội phạm công nghệ cao là gì? Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội phạm công nghệ cao. Tại cuộc họp lần thứ 10 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về ngăn chặn và xử lý tội phạm được tổ chức tại thành phố Viên (Áo) từ ngày 10 – 17 tháng 10 năm 2000, một cuộc hội thảo đã được tổ chức để bàn về vấn đề tội phạm công nghệ cao, mà họ gọi là “Công nghệ thông tin”. Định nghĩa tội phạm công nghệ cao của họ được hiểu theo 2 nghĩa: Theo nghĩa hẹp, là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính và mạng máy tính với mục đích xâm phạm đến an toàn của hệ thống máy tính và quy trình lưu trữ dữ liệu của hệ thống đó.
Loại tội phạm theo định nghĩa này có thể được hiểu là loại tội phạm mới, có quan hệ trực tiếp đến máy tính, mạng máy tính, làm ảnh hưởng và gây thiệt hại cho người sử dụng. Theo nghĩa rộng, là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính hoặc các phương pháp khác có liên quan đến máy tính, mạng máy tính, bao gồm các loại tội phạm như chiếm giữ bất hợp pháp và đe doạ hoặc làm sai lệnh thông tin bằng phương pháp sử dụng mạng máy tính. Loại tội phạm theo định nghĩa này là rất rộng, bao gồm nhiều loại hành vi của tội phạm truyền thống được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ máy tính mà phổ biến hiện nay như các hành vi lừa đảo, trốn lậu cước viễn thông, mạo danh. Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam cho rằng tội phạm công nghệ cao là: Loại tội phạm sử dụng những thành tựu mới của khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý hoặc vô ý, gây nguy hiểm cho xã hội.
Chủ thể của loại tội phạm này thường là những người có trình độ học vấn, chuyên môn cao, có thủ đoạn rất tinh vi, khó phát hiện. Hậu quả do loại tội phạm này gây ra không chỉ là những thiệt hại lớn về mặt kinh tế, xã hội mà nó còn xâm hại tới an ninh quốc gia. Một số nhóm tội phạm công nghệ cao phổ biến hiện nay là: Nhóm tội phạm tin học (Hacker), viễn thông. Nhóm tội phạm sử dụng phương tiện điều khiển chính xác.
Nhóm tội phạm sinh học - hoá học [57, tr. Theo Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế (INTERPOL) thì tội phạm công nghệ cao là loại tội phạm sử dụng, lạm dụng những thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ có trình độ công nghệ cao như một công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Trong các dạng của tội phạm công nghệ cao có 2 dạng chính, đó là tội phạm máy tính (computer crime) và tội phạm công nghệ thông tin - điều khiển học (cyber crime). Việc xác định hành vi phạm tội, mức độ tội phạm và mức hình phạt ở các nước trên thế giới có sự khác nhau tuỳ thuộc vào hệ thống pháp luật mà nước đó đang áp dụng.
Trong cuốn sách lưu hành nội bộ “An toàn thông tin và công tác phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao”, Đại tá, TS. Trần Văn Hòa, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm sử dụng công nghệ cao đưa ra khái niệm: “Tội phạm sử dụng công nghệ cao là những hành vi vi 15 z phạm pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự sử dụng thiết bị kỹ thuật số, mạng máy tính làm công cụ, tấn công trái pháp luật vào website, cơ sở dữ liệu, máy tính, mạng máy tính một cách cố ý hoặc vô ý, hoặc sử dụng thiết bị kỹ thuật số, mạng máy tính để thực hiện các hành vi tội phạm khác, xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, gây nguy hiểm cho xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân” [26, tr. Thực tế ở thời điểm hiện tại trên thế giới và ở Việt Nam đều chưa có sự thống nhất về khái niệm tội phạm công nghệ cao, khái niệm này còn gây nhiều tranh cãi về chủ thể thực hiện hành vi, cách thức phạm tội, và cả hình thức xử phạt… Từ những nghiên cứu của mình, chúng tôi tạm chấp nhận khái niệm về tội phạm công nghệ cao theo khái niệm của Cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an): “Tội phạm sử dụng công nghệ cao được hiểu là các hành vi sử dụng máy tính, mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số để phạm tội. Tội phạm công nghệ cao là tội phạm “phi truyền thống”, có những nét đặc thù, khác biệt, tính chất, mức độ hậu quả do loại tội phạm này gây ra hết sức nghiêm trọng, khó lường và đang phát triển trên quy mô toàn cầu, trở thành mối đe dọa to lớn đối với sự ổn định, phát triển của các quốc gia trên thế giới”.
Các loại tội phạm công nghệ cao. Nhìn lại thời gian qua có thể thấy rằng, tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam, nhất là tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông đang gia tăng nhanh chóng, sự xâm nhập của tội phạm quốc tế qua con đường công nghệ cao đang diễn ra từng ngày, từng giờ. Từ những hành vi manh nha ban đầu như sử dụng máy tính, mạng máy tính để phát tán vi rút, trộm cắp 16 z thông tin, dữ liệu, hiện nay tội phạm đã dùng máy tính, mạng máy tính, thiết bị viễn thông thành một công cụ đắc lực để gây án với hàng loạt các hành vi như: lừa đảo, trộm cắp tài sản; rửa tiền; buôn bán ma tuý; tuyên truyền văn hoá phẩm đồi truỵ; mại dâm; xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; khủng bố; quấy rối. Có thể nói, tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng đa dạng bao gồm cả các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm hình sự, kinh tế, ma tuý.
Tại Việt Nam, tội phạm sử dụng công nghệ cao tập trung vào 2 loại chính: (1) Tội phạm trong lĩnh vực an ninh, an toàn mạng (máy tính, mạng máy tính là đối tượng bị tấn công): Thông qua mạng Internet để phá hoại về chính trị hoặc trục lợi về kinh tế bằng các thủ đoạn tấn công, phá hoại máy chủ, hệ thống thông tin; xâm nhập, phá hoại hạ tầng thông tin quốc gia, sửa đổi, trộm cắp cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp; sử dụng trái phép thông tin trộm cắp được, tấn công từ chối dịch vụ; phát tán vi rút, phần mềm gián điệp để trộm cắp thông tin cá nhân, thông tin kinh tế, bí mật quốc gia… Đặc biệt, đã xuất hiện tại Việt Nam một số loại virut siêu đa hình, khi lây nhiễm, tự động biến đổi, tránh sự phát hiện của các phần mềm diệt virut. Qua đấu tranh, lực lượng Cảnh sát Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã phát hiện một số phần mềm gián điệp quét, tìm và khai thác lỗ hổng bảo mật, điều khiển từ xa, có chức năng lấy mọi thông tin lưu trong máy tính, phá hủy dữ liệu, ghi âm thanh, lấy thông tin mật khẩu, thông tin cá nhân, chụp ảnh màn hình, tự động bật webcam… và gửi tất cả dữ liệu thu được cho đối tượng qua thư điện tử đã được chỉ định trước. Các phần mềm này đều hoạt động ngầm trên máy, rất khó phát hiện. 17 z (2) Sử dụng máy tính, mạng máy tính thực hiện hành vi phạm tội khác (máy tính, mạng máy tính trở thành công cụ, phương tiện để tấn công): Tội phạm có sử dụng phương tiện kỹ thuật số, mạng máy tính để làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội các loại tội “truyền thống” như lừa đảo qua mạng, trộm cắp tiền từ thẻ tín dụng, đánh bạc qua mạng, buôn bán qua mạng, rửa tiền qua mạng, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy qua mạng, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ qua mạng.
Phổ biến là các thủ đoạn như: Truy cập vào cơ sở dữ liệu để lấy thông tin tài khoản Ngân hàng, bán cho tội phạm nước ngoài hoặc dùng để mua hàng qua mạng chuyển về Việt Nam; tổ chức đánh bạc, cá độ bóng đá trên một số website nước ngoài, chuyển tiền sang tài khoản tiền ảo, rút tiền qua máy ATM; hoặc người nước ngoài đi du lịch vào Việt Nam, sử dụng hộ chiếu giả, thẻ tín dụng giả hoặc thông đồng với các đại lý chấp nhận thẻ để thanh toán các dịch vụ khách sạn, mua hàng, đặt tour du lịch, mua đồ trang sức, mua vé máy bay… Trong lĩnh vực thương mại điện tử, tội phạm thực hiện các hành vi lừa đảo thông qua việc huy động vốn, đầu tư kinh doanh qua mạng chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng (Điển hình là vụ Colonyinvest: Một số đối tượng người Hoa đã cấu kết với một số đối tượng nước ngoài quảng cáo về việc đầu tư tài chính đa cấp qua mạng để được hưởng mức lợi nhuận 2,8 đến 3%/ngày, làm hàng vạn người tại 38 tỉnh và thành phố trên cả nước đã bị lừa đảo, chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng). Thủ đoạn lừa đảo trong bán hàng trực tuyến trên mạng internet ngày càng gia tăng: Vì người mua phải trả tiền trước, người bán thường chào hàng không đúng với hàng được giao về chất lượng, số lượng, chủng loại, mẫu mã…, thậm chí không giao hàng sau khi đã nhận tiền, hoặc trả tiền bằng thẻ 18 z tín dụng trộm cắp được. Nhiều công ty Việt Nam đã bị lừa hàng triệu USD, khi ký hợp đồng ngoại thương qua mạng. Đối tác thường thực hiện đúng cam kết một hoặc hai hợp đồng đầu để tạo lòng tin, khi lượng tiền thanh toán lên đến hàng triệu USD, đối tượng nhanh chóng rút tiền, không giao hàng và cắt mọi liên lạc.
Hàng trăm đối tượng gốc Châu Phi nhập cảnh vào TP Hồ Chí Minh sử dụng thẻ tín dụng trộm cắp được để rút tiền, rửa tiền, gửi thư lừa đảo trúng thưởng xổ số, đề nghị tham gia rửa tiền, đề nghị nhận hộ tiền thừa kế, thông báo nhận hàng từ nước ngoài…, để được nhận số tiền lớn với điều kiện phải chuyển trước 1 khoản phí để làm thủ tục. Thời gian qua, hiện tượng nhắn tin lừa đảo, gửi thư điện tử lừa đảo, tống tiền, khủng bố, phá hoại, đe dọa, quấy rối đã bùng nổ mạnh mẽ.