mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Vấn đề sinh thái từ góc nhìn thể loại: Từ phong cách truyện đồng thoại của Tô Hoài tới tiểu thuyết về loài vật của Nguyễn Quỳnh. Chƣơng 3: Từ chủ nghĩa nhân loại trung tâm tới chủ nghĩa sinh thái trung tâm trong truyện về loài vật của Tô Hoài và Nguyễn Quỳnh. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái lƣợc về phê bình sinh thái 1.
Phê bình sinh thái là gì? Ra đời từ những năm 1970 của thế kỉ trƣớc, phê bình sinh thái đang là một hƣớng đi rất đƣợc quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu tâm huyết, công phu, khá toàn diện của các nhà nghiên cứu về lí thuyết của phê bình sinh thái. Các công trình nghiên cứu ấy đã lí giải cụ thể những khái niệm, những thuật ngữ về phê bình sinh thái, qua đó cũng khẳng định cho hƣớng tiếp cận đúng đắn, cho nhận thức sâu sắc về vai trò, về mối quan hệ giữa con ngƣời và thế giới tự nhiên. Những công trình nghiên cứu đó thực sự là những tài sản có giá trị trong việc tìm hiểu, nghiên cứu; là con đƣờng đi đúng đắn giúp cho việc tiếp cận các tác phẩm văn chƣơng đƣợc đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn.
Đặc biệt trong khi môi trƣờng tự nhiên đang bị bức tử, đe dọa thì tiếng nói của phê bình sinh thái thực sự là hồi chuông cảnh tỉnh, là sự giác ngộ trong nhận thức để mỗi ngƣời sẽ hƣớng nhiều hơn, quan tâm nhiều hơn đến sinh thái, đến môi trƣờng tự nhiên. Và nhƣ thế, những tác phẩm văn chƣơng thực sự phát huy đƣợc sức mạnh đặc thù - giúp con ngƣời nhận thức và rung động, giúp con ngƣời nhận thức và hành động ngƣời hơn. Tập bài viết Văn bản phê bình sinh thái do Cheryll Glotfelty và Harold From chủ biên ( Đỗ Văn Hiểu dịch) có thể coi là những bài viết xuất hiện sớm nhất tại Mĩ về phê bình sinh thái. Ngƣời viết đã đƣa ra quan niệm về khái niệm phê bình sinh thái cụ thể, dễ hiểu: “Nói một cách đơn giản, phê bình sinh thái là việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trƣờng tự nhiên; mang đến một cách tiếp cận lấy trái đất làm trung tâm trong nghiên cứu văn học” [16; 54].
Cũng chính từ khái niệm phê bình sinh thái, chúng ta cũng có sự nhìn nhận, soi chiếu một cách cụ thể hơn, sâu sắc hơn về văn học sinh thái. Giáo sƣ Vƣơng Nặc - Trƣờng Đại học Hạ Môn (Trung Quốc) trong công trình nghiên cứu Văn học sinh thái Âu Mỹ (2003), đã nêu ra cách hiểu khá toàn diện, có tính thuyết phục về văn học sinh thái: “Văn học sinh thái không đơn thuần là văn học miêu 10 tả tự nhiên thuần túy, khác nhau căn bản của văn học sinh thái và văn học miêu tả tự nhiên truyền thống là nó tìm hiểu và trình bày mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên cũng nhƣ địa vị của con ngƣời trong trong thế giới tự nhiên, ảnh hƣởng của con ngƣời đối với tự nhiên và ảnh hƣởng của tự nhiên đối với con ngƣời, mối liên hệ giữa vạn vật trong tự nhiên với con ngƣời” [16; 6]. Trong chuyến công tác tại Viện Văn học Việt Nam vào tháng 3 năm 2001, Karen Thornber - giảng viên của Viện Havard Yenching( Mĩ) đã đề cập đến những nội dung quan trọng về mối quan hệ giữa văn chƣơng và môi trƣờng, khẳng định tính cấp thiết, tầm quan trọng của văn chƣơng đối với môi trƣờng; của phê bình sinh thái: “văn chƣơng có ảnh hƣởng quan trọng đến sự hiểu biết về biến đổi môi trƣờng trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa; đồng thời, ảnh hƣởng đến những công trình đi về sau về triết học môi trƣờng, chính trị, thể loại, nơi chốn, khu vực và quốc gia” [74; 91]. Tác giả đã chỉ rõ việc nghiên cứu sự thay đổi môi trƣờng nhƣ thế nào; đồng thời tác giả cũng lí giải đƣợc mối quan hệ gắn bó giữa con ngƣời và văn học với tự nhiên là vấn đề đã đƣợc đề cập từ ngàn năm dù đến những năm 1990 mới thực sự trở thành một trào lƣu trong nghiên cứu văn học.
Trong tài liệu dịch thuật Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển (2012) , nhà nghiên cứu Đỗ Văn Hiểu cũng đã tổng hợp đƣợc những lí luận cơ bản về phê bình sinh thái với những hƣớng tiếp cận, những thuật ngữ nền tảng về phê bình sinh thái. Theo tài liệu này, phê bình sinh thái là “Phê bình toàn bộ quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên”, “thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán – nghiên cứu tƣ tƣởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài ngƣời đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến thái độ và hành vi nhân loại đối với tự nhiên đã dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trƣờng và nguy cơ sinh thái” [16; 55]. Cũng theo tác giả, Phê bình sinh thái là một khuynh hƣớng nghiên cứu văn học mang tính cách tân bởi đó là nhu cầu cấp thiết của thời đại khi tình trạng môi trƣờng toàn cầu đang ngày một bị đe dọa, đang bị tác động theo chiều hƣớng xấu đi. Chính vì thế, phê bình sinh thái chính là sự cách tân về 11 tƣ tƣởng khi chuyển từ “nhân loại trung tâm luận” sang “sinh thái trung tâm luận”.
Đó chính là cách để con ngƣời nhìn lại mình, tìm lại mình trong mối quan hệ với tự nhiên; là sự chuộc lỗi với tự nhiên. Ở Việt Nam, phê bình sinh thái cũng là một vấn đề đã, đang đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm. Thông qua các bài viết, các tài liệu dịch thuật, các nhà nghiên cứu đã tạo nên những mảng màu đa sắc trong nghiên cứu, phê bình văn học nhƣ Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc của Trần Đình Sử (2011; Thi pháp sinh thái của Frederick Turne, Nguyễn Tiến Văn dịch (2012), Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường của Cheryl Glofelty, Trần Thị Ánh Nguyệt dịch (2014). Các công trình nghiên cứu đã thực sự khai mở và làm sâu sắc thêm những lí thuyết, những quan điểm về phê bình sinh thái.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu về phê bình sinh thái đã khẳng định đƣợc sự quan tâm của nhân loại trƣớc sự khủng hoảng môi trƣờng đang rất đáng báo động; là vấn đề cấp thiết liên quan đến mỗi quốc gia, đến cuộc sống của toàn nhân loại. Văn học sinh thái với vai trò tích cực đã, đang và sẽ góp vào việc giúp cho nhân loại có đƣợc nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn; sống có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ bảo vệ môi trƣờng sống của trái đất tƣơi đẹp của chúng ta. Chủ đề sinh thái trong văn học Việt Nam Trong mạch nguồn của nền văn học dân tộc, sự gắn bó giữa thiên nhiên và con ngƣời; giữa con ngƣời với con ngƣời là đề tài đƣợc phản ánh xuyên suốt. Những cảnh trí thiên nhiên, những con ngƣời đã sống và gắn bó trong suối nguồn thiên nhiên đƣợc phản ánh đậm nét trong sáng tác văn chƣơng.
Thiên nhiên vừa hùng vĩ, kì bí với con ngƣời nhƣng thiên nhiên cũng luôn che chở, nâng đỡ, bồi đắp tâm hồn con ngƣời, làm cho đời sống vật chất, tinh thần của con ngƣời trở nên phong phú, sinh động thêm. Tuy nhiên, trong mỗi thời kì, thiên nhiên lại đƣợc nhìn nhận, đƣợc thể hiện và chịu sự chi phối rất rõ của cảm quan thời đại. Trong dòng chảy của văn học dân gian, thiên nhiên vừa là đối tƣợng để mô tả, vừa là phƣơng tiện nghệ thuật để giúp ta hiểu thêm về tâm hồn, lối sống. 12 Thiên nhiên hiện lên với những vẻ đẹp của những cánh đồng, những ngọn núi, con sông; là trăng sao, mây gió…Con ngƣời đã thể hiện đƣợc cái tình của mình với những hình ảnh thiên nhiên gần gũi, quanh mình.
Đó là tình yêu mến, niềm tự hào về vẻ đẹp của thiên nhiên, của quê hƣơng xứ sở: “Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng bát ngát mênh mông Thân em nhƣ chẽn lúa đòng đòng Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai” [38; 53]. Tình yêu, nỗi nhớ của con ngƣời cũng đƣợc gửi gắm qua những hình ảnh thiên nhiên bình dị: “Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tƣơng Nhớ ai dãi nắng dầm sƣơng Nhớ ai tát nƣớc bên đƣờng hôm nao” (Ca dao) Với mảng truyện dân gian, những bí ẩn của thiên nhiên, những thách thức của thiên nhiên với con ngƣời cũng đƣợc phản ánh. Có thể nói, mối quan hệ giữa con ngƣời với thiên nhiên trong các sáng tác dân gian đã đƣợc quan tâm, đề cập. Trong văn học trung đại, thiên nhiên thực sự đã chiếm “một vị trí danh dự”.
Thiên nhiên không chỉ là vẻ đẹp của tự nhiên mà còn là đối tƣợng, là chuẩn mực để nói về vẻ đẹp của con ngƣời: “Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” [52; 81]. Thiên nhiên còn là nơi để con ngƣời gửi gắm tình yêu, là nơi con ngƣời tìm đến, trở về sau những lo toan bộn bề của cuộc sống; sau những “đắng cay” của cuộc đời, của nhân tình thế thái. Thiên nhiên chính là nơi lánh trú bình yên nhất; thanh thản nhất…để tâm hồn đƣợc thanh sạch giữa bụi trần; để con ngƣời giữ đƣợc, thể hiện đƣợc nhân cách, tiết tháo, phẩm giá của mình; là nơi con ngƣời thực sự đƣợc sống với “thú điền viên”; là nơi để gửi gắm tâm sự thời thế: “Ao cạn vớt bèo cấy muống Đìa thanh phát cỏ ƣơng sen 13 Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc Thuyền chở yên hà nặng vạy then” [79; 418 - 419]. Rõ ràng, trong cảm thức của mình, con ngƣời luôn coi trọng thiên nhiên.
Thiên nhiên thực sự là một ngƣời bạn lớn.Thiên nhiên không đối nghịch với con ngƣời mà hòa điệu với con ngƣời, đem đến cho con ngƣời những phút giây bình yên và thƣ thái. Và vì thế, dù mối quan hệ giữa con ngƣời với thiên nhiên đƣợc đề cập nhƣng dấu ấn của phê bình sinh thái chƣa thật sự đậm nét. Giai đoạn 1945 - 1975, nền văn học Việt Nam tập trung chủ yếu vào công cuộc chiến đấu, bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nƣớc.