Luận Án Về Phê Bình Sinh Thái Trong Thơ Mới Việt Nam (1932-1945)

Tài liệu nghiên cứu Luận án thơ mới 1932 1945 từ góc nhìn phê bình sinh thái, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Lí luận Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ văn học

2020

214
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu phê bình sinh thái ở nước ngoài

1.2. Phê bình sinh thái ở phương Tây

1.3. Thời kỳ đầu

1.4. Thời kỳ phát triển

1.5. Phê bình sinh thái các quốc gia ngoài phương Tây

1.6. Nghiên cứu phê bình sinh thái ở Việt Nam

1.7. Cây cối, con vật và những khủng hoảng môi trường trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam

1.8. Văn học và công lí môi trường trong nghiên cứu phê bình sinh thái ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: PHÊ BÌNH SINH THÁI NHƯ LÀ MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN

2.1. Phê bình sinh thái lấy trái đất làm trung tâm trong nghiên cứu văn học

2.2. Tiền đề triết học của phê bình sinh thái

2.3. Phê bình sinh thái và “các câu chuyện có cây cối”

2.4. Diễn trình của phê bình sinh thái

2.5. Khủng hoảng của phê bình sinh thái cổ điển

2.6. Công lí môi trường trong phê bình sinh thái

2.7. Phê bình sinh thái với cái toàn cầu, sự tuyệt chủng, động vật và tính liên ngành

2.8. Sự manh nha của phê bình sinh thái làn sóng thứ ba

2.9. Cái toàn cầu, sự tuyệt chủng, động vật và tính liên ngành

2.10. Xác định cách tiếp cận văn học từ góc độ phê bình sinh thái

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG BÌNH DIỆN SINH THÁI CỦA MỐI QUAN HỆ TỰ NHIÊN VÀ CON NGƯỜI TRONG THƠ MỚI

3.1. Tự nhiên như một khách thể

3.2. Tự nhiên như là một sinh thể tồn tại bên ngoài con người

3.3. Tự nhiên như là phản chiếu những dự cảm bất an về sinh thái của con người

3.4. Tự nhiên như một chủ thể

3.5. Tự nhiên như là lực hút và lực đẩy của chốn đô thị

3.6. Tự nhiên như là cõi đi về của con người trong thế giới hiện đại

4. CHƯƠNG 4: NGÔN NGỮ VÀ BIỂU TƯỢNG SINH THÁI TRONG THƠ MỚI

4.1. Ngôn ngữ sinh thái trong Thơ mới

4.2. Vấn đề ngôn ngữ sinh thái trong thơ ca

4.3. Hệ thống ngôn ngữ sinh thái trong Thơ mới

4.4. Thơ mới như là những bảng màu sinh thái

4.5. Thơ mới như là những khởi đầu của lí thuyết phê bình sinh thái ở Việt Nam

4.6. Thơ mới như là những tiềm ẩn lí luận bằng thơ về sự chấn thương sinh thái

4.7. Biểu tượng sinh thái trong Thơ mới

4.8. Biểu tượng và biểu tượng “vườn” trong phê bình sinh thái

4.9. Biểu tượng “vườn” trong Thơ mới

4.10. Vườn - tưởng nhớ cảnh sắc bản địa

4.11. Vườn – nơi cứu rỗi tâm hồn

4.12. Vườn – bám rễ vào trần gian

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Phê Bình Sinh Thái Trong Thơ Mới Việt Nam

Phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu văn học mới mẻ, tập trung vào mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên. Trong bối cảnh Thơ mới Việt Nam (1932-1945), phê bình sinh thái không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các tác phẩm mà còn phản ánh những vấn đề môi sinh đang nổi cộm. Thơ mới ra đời trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, khi mà thiên nhiên và con người đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc áp dụng phê bình sinh thái vào Thơ mới sẽ mở ra những góc nhìn mới về giá trị văn học và ý nghĩa của nó trong việc bảo vệ môi trường.

1.1. Khái niệm Phê Bình Sinh Thái và Tầm Quan Trọng

Phê bình sinh thái là một phương pháp nghiên cứu văn học, nhấn mạnh mối quan hệ giữa văn học và môi trường. Nó giúp khám phá cách mà các tác phẩm văn học phản ánh và tương tác với các vấn đề sinh thái. Đặc biệt, trong Thơ mới, phê bình sinh thái có thể làm nổi bật những cảm xúc và suy tư của tác giả về thiên nhiên và con người.

1.2. Bối Cảnh Lịch Sử Của Thơ Mới Việt Nam

Thơ mới xuất hiện trong bối cảnh xã hội đầy biến động, với sự xâm lược của thực dân Pháp và sự phát triển của nền văn minh công nghiệp. Những tác phẩm thơ ca trong giai đoạn này không chỉ phản ánh tâm tư của con người mà còn thể hiện sự lo lắng về sự tàn phá môi trường tự nhiên.

II. Những Thách Thức Trong Nghiên Cứu Phê Bình Sinh Thái

Nghiên cứu phê bình sinh thái trong Thơ mới Việt Nam gặp phải nhiều thách thức. Một trong số đó là việc thiếu tài liệu và nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong thơ ca. Hơn nữa, việc áp dụng lý thuyết phê bình sinh thái vào văn học Việt Nam còn mới mẻ, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có cái nhìn sâu sắc và đa chiều.

2.1. Thiếu Tài Liệu Nghiên Cứu Chuyên Sâu

Mặc dù phê bình sinh thái đã được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước, nhưng tại Việt Nam, tài liệu về lĩnh vực này còn hạn chế. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn nghiên cứu Thơ mới.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Áp Dụng Lý Thuyết

Việc áp dụng lý thuyết phê bình sinh thái vào Thơ mới đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có kiến thức vững vàng về cả văn học và sinh thái học. Sự kết hợp này không phải lúc nào cũng dễ dàng, đặc biệt là khi các tác phẩm thơ ca thường mang tính trừu tượng và cảm xúc.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Phê Bình Sinh Thái Trong Thơ Mới

Để nghiên cứu phê bình sinh thái trong Thơ mới, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng. Phương pháp hệ thống, thống kê và liên ngành sẽ giúp làm rõ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong các tác phẩm thơ ca. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ tạo ra cái nhìn toàn diện hơn về giá trị của Thơ mới.

3.1. Phương Pháp Hệ Thống Trong Nghiên Cứu

Phương pháp hệ thống giúp phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố trong Thơ mới, từ nội dung đến nghệ thuật. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu thấy được sự tương tác giữa con người và thiên nhiên trong các tác phẩm.

3.2. Phương Pháp Thống Kê Dấu Hiệu Sinh Thái

Phương pháp thống kê giúp xác định và phân loại các dấu hiệu sinh thái trong Thơ mới. Qua đó, các nhà nghiên cứu có thể mô tả rõ hơn mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong các tác phẩm thơ ca.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phê Bình Sinh Thái Trong Thơ Mới

Phê bình sinh thái không chỉ là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc bảo vệ môi trường. Các tác phẩm thơ ca có thể truyền tải thông điệp về sự cần thiết phải bảo vệ thiên nhiên. Việc nghiên cứu Thơ mới từ góc độ phê bình sinh thái sẽ giúp nâng cao nhận thức về các vấn đề môi sinh trong xã hội hiện đại.

4.1. Tác Động Đến Nhận Thức Cộng Đồng

Nghiên cứu phê bình sinh thái trong Thơ mới có thể góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về các vấn đề môi trường. Những thông điệp trong thơ ca có thể khuyến khích mọi người hành động vì môi trường.

4.2. Khuyến Khích Sáng Tác Văn Học Mới

Việc áp dụng phê bình sinh thái vào Thơ mới có thể khuyến khích các tác giả sáng tác những tác phẩm mới, phản ánh sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Phê Bình Sinh Thái Trong Thơ Mới

Phê bình sinh thái trong Thơ mới Việt Nam đang mở ra nhiều cơ hội nghiên cứu mới. Với sự gia tăng nhận thức về các vấn đề môi trường, phê bình sinh thái sẽ tiếp tục phát triển và có ảnh hưởng lớn đến văn học Việt Nam. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị mới cho cả văn học và môi trường.

5.1. Triển Vọng Nghiên Cứu Trong Tương Lai

Nghiên cứu phê bình sinh thái trong Thơ mới sẽ tiếp tục phát triển, mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu. Sự kết hợp giữa văn học và sinh thái sẽ tạo ra những giá trị mới cho văn học Việt Nam.

5.2. Tác Động Đến Văn Hóa Đọc

Phê bình sinh thái có thể tác động tích cực đến văn hóa đọc, khuyến khích độc giả tìm hiểu và yêu thích thiên nhiên hơn. Điều này sẽ góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao ý thức cộng đồng.

15/07/2025
Luận án thơ mới 1932 1945 từ góc nhìn phê bình sinh thái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Phê bình sinh thái như là một hướng tiếp cận văn học Chương 3: Những bình diện sinh thái của mối quan hệ tự nhiên và con người trong Thơ mới Chương 4: Ngôn ngữ và biểu tượng sinh thái trong Thơ mới 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu phê bình sinh thái ở nƣớc ngoài 1. Phê bình sinh thái ở phương Tây Cho đến nay phê bình sinh thái đã trở thành một xu hướng nghiên cứu liên ngành và không ngừng mở rộng.Trên đại thể, phê bình sinh thái đã trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất gắn với thời kỳ lãng mạn; Giai đoạn thứ hai là sự gặp gỡ các diễn ngôn sinh thái và diễn ngôn hậu thực dân sinh thái. Đây là hướng nghiên cứu văn học khởi nguồn từ Mỹ vào những năm 1960 - 1970 và mở rộng ra các nước phương Tây.

Phê bình sinh thái nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Nếu như phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ với văn học dưới góc độ của ý thức về giới, phê bình Marxist đưa ý thức về các hình thái sản xuất và các tầng lớp kinh tế vào việc đọc văn bản thì phê bình sinh thái lại lấy cách tiếp cận lấy trái đất - tự nhiên làm trung tâm khi phân tích tác phẩm văn học. Mặc dù phê bình sinh thái đã manh nha từ trước, nhưng phải đến những năm 70 của thế kỷ XX, khi Joseph W. Meeker cho xuất bản Sinh thái học của văn học chính thức đề xuất tên gọi sinh thái học văn học (literary ecology) thì các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm sâu sắc đến mối quan hệ giữa văn hóa và văn học với môi trường.

Cũng từ đây phê bình sinh thái trở thành một lĩnh vực nghiên cứu văn học được quan tâm trên thế giới. Thời kỳ đầu Năm 1973, Raymond Williams – học giả người Anh công bố cuốn Nông thôn và thành thị (The country and the city). Đây là công trình được xem là khởi đầu của nghiên cứu phê bình sinh thái ở nước Anh.Tác giả đã làm rõ mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn trong văn học Anh từ lập trường của chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái. Ông đã chỉ rõ đó là mối quan hệ vừa chứa đựng sự mâu thuẫn lại vừa thống nhất.

Waage cho ra đời cuốn sách Dạy văn học môi trường: tài liệu, phương pháp và tiềm năng phát triển (Teaching environmental literature materials methods resources). Với “mục đích thúc đẩy mọi người 6 tăng cường quan hệ và hiểu biết sâu hơn về vấn đề môi trường trong văn học” [143] cuốn sách đã như một gợi ý cho các giáo sư Mĩ mở các môn học liên quan đến văn học sinh thái và tiến hành nghiên cứu lĩnh vực này. Năm 1989, tại Mỹ đã dành một bản tin có tên Bản tin sáng tác về đề tài tự nhiên trong văn học Mỹ (The American nature writing newsletter) để đăng tải những bài viết về phê bình sinh thái. Và cũng năm này, trong Đại hội “Hội văn học miền Tây”, học giả Cheryll Glotfelty công bố báo cáo Vì một nền phê bình văn học sinh thái (Toward an ecological literary criticism) và Lough với bài Định giá lại tự nhiên: Vì một nền phê bình sinh thái học (Revaluing nature: Toward and ecological criticism), với hai báo cáo nói trên các học giả đã góp phần đề xướng và làm sống lại thuật ngữ phê bình sinh thái.

Năm 1990 đánh dấu sự ra đời bộ sách đồ sộ có tên Cuốn sách viết về tự nhiên (The norton: book of nature writing) do Robert Finch và John Elder chủ biên. Cuốn sách dày gần 1000 trang đã giới thiệu những tác phẩm quan trọng viết về tự nhiên của các nhà văn Âu Mĩ từ thế kỉ XVIII. Đây có thể xem như là một tài liệu quý bổ sung hữu ích cho người nghiên cứu tìm hiểu về văn học sinh thái. Có thể nhận thấy, thời kỳ đầu những nghiên cứu về văn học và môi trường đã bắt đầu được chú ý và ngày càng gia tăng trên thế giới.

Song hầu như chỉ tập trung vào các nghiên cứu ở Anh và Mỹ đặc biệt là miền Tây nước này. Nhiều công trình tập trung viết về cái hoang dại, sự hiển linh của cá nhân, chỉ ra sự hài hòa, cân bằng giữa con người với thiên nhiên – những thứ thực ra là do văn hóa con người và ngôn ngữ con người tạo ra chứ không phải là thực tế thiên nhiên có như vậy. Chính vì thế, các nhà phê bình sinh thái gọi đây là giai đoạn tụng ca phê bình sinh thái. Thời kỳ phát triển Phê bình sinh thái ra đời ở Hoa Kì và bắt đầu phát triển mạnh vào những năm 90.

Đặc biệt là sự ra đời của Hội nghiên cứu văn học và môi trường (The Association for the study of study of literature and environment), gọi tắt là ASLE được thành lập ở trường đại học Nevada Mĩ vào năm 1992. Đây là một tổ chức học thuật phê bình sinh thái mang tính quốc tế, thường xuyên tổ chức 7 các cuộc thảo luận, xuất bản các tập san của hội, giới thiệu những thành quả phê bình sinh thái mới nhất. Năm 1993, tạp chí Nghiên cứu liên ngành văn học và môi trường (Interdisciplinary studies in literature and environment) gọi tắt là ISLE ra đời. Tạp chí sau đó trở thành cuốn sách học thuật có tính hạt nhân trong lĩnh vực phê bình sinh thái, mỗi số đều có dung lượng hàng trăm trang.

Cùng với sự ra đời của ASLE, ISLE đã làm tăng tính học thuật cho các thành quả nghiên cứu phê bình sinh thái. Năm 1998, tại Luân Đôn, R. Sammells chủ biên tuyển tập Viết về môi trường: Phê bình sinh thái và văn học (Writing the environment:Ecocriticism and literature). Tác giả là những nhà phê bình sinh thái Âu Mỹ đã giới thiệu phê bình sinh thái từ góc độ nhân văn, thể hiện nhiều lập trường nghiên cứu của các nhà phê bình sinh thái.

Phê bình sinh thái phát triển thực sự mạnh mẽ và sâu rộng. Hàng loạt các công trình nghiên cứu ra đời khiến văn học môi trường trở thành hiện tượng văn học mang tính toàn cầu. Đặc biệt phê bình sinh thái còn trở thành môn học trong nhiều trường đại học ở Anh và Mỹ. Đại học Naveda là trung tâm giảng dạy và nghiên cứu văn học sinh thái của toàn nước Mỹ.

Ở đây tập hợp nhiều giáo sư, nghiên cứu sinh chuyên nghiên cứu văn học sinh thái. Bên cạnh đó là các trường đại học như Virginia, Arizona, Georgia, Oregen….đều là cơ sở quan trọng của phê bình sinh thái. Năm 2000, cũng là năm phát triển mạnh của phê bình sinh thái với sự công bố hàng loạt công trình phê bình sinh thái xuất sắc như Tính đa ngành trong nghiên cứu văn học viết về tự nhiên (Father afield in the study of nature – oriented literature) của Patrick D. Murphy; Cuốn Chủ nghĩa môi trường trong văn học Mỹ (American literary environmentalism) của David Mazel; Bài ca trái đất (The song of the earth) của Jonathan Bate; Tuyển tập nghiên cứu xanh; từ chủ nghĩa lãng mạn đến phê bình sinh thái (The green studies reader: From romanticism to ecocriticism) của Laurence Coupe; Ý thức nơi chốn của Thoreau: Những tiểu luận về văn học môi trường Mỹ (Thoreau’s sense of pace: Essays in American environmental writing) của Richard J.

Schneider …Với sự 8 ra đời của rất nhiều các tác phẩm phê bình sinh thái nói trên đã cho thấy tiềm năng phát triển của lĩnh vực nghiên cứu này. Năm 2008, Scott Slovic cho xuất bản cuốn sách Đi xa để suy nghĩ: Nhập thế, xuất thế và trách nhiệm của phê bình sinh thái (Going away to think: Engagement, retreat, and ecocritical responsibility). Tại đây, tác giả đã đề xuất trách nhiệm của sinh thái chính là sự dung hợp của hai luồng tư tưởng “nhập thế” và “xuất thế”, nghĩa là nhà phê bình sinh thái cần tham gia vào việc hưởng thụ tự nhiên nhưng cũng nêu cao tinh thần chăm sóc và bảo vệ tự nhiên. Năm 2009, Peter Barry cung cấp thêm một công trình có đề cập đến một vấn đề lý thuyết mới của phê bình sinh thái bao gồm các vấn đề như: chủ nghĩa nhân văn tự do, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc… Lý thuyết nhập môn: Giới thiệu về lý thuyết văn học và văn hóa (Beginning theory: An introduction to literary and cultural theory).

Cũng trong năm này nhiều chuyên luận đã đề cập đến phê bình sinh thái đô thị như Tự nhiên của đô thị: Phê bình sinh thái và môi trường đô thị (The nature of cities: Ecocriticism and urban environments)của Michael Bennett và David W. Teague; Xem xét lại công viên đô thị: Không gian công cộng và đa dạng văn hóa (Rethinking urban parks: Public space and cultural diversity) của Setha Low, Dana Taplin và Suzanne Scheld. Khởi nguồn ở Anh và Mỹ, phê bình sinh thái đã mở rộng nghiên cứu ra toàn cầu. Nếu như phê bình sinh thái manh nha hình thành khoảng từ những năm 70 của thế kỉ XX, phát triển mạnh khoảng từ năm 1990 đến năm 2007 thì sang khoảng năm 2008 vẫn trên đà phát triển đó phê bình sinh thái đã có nhiều sự chuyển hướng trong nghiên cứu, mở rộng nhiều hơn tới các vấn đề giới, chủng tộc và giai cấp cũng như nhấn mạnh đến các góc nhìn liên văn hóa… Điều đó càng chứng tỏ sự hứa hẹn phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu phát triển và mang tính toàn cầu.

Song trên hết, chúng ta phải thừa nhận ý nghĩa đúng đắn của sứ mệnh phê bình sinh thái: “Góp phần thay đổi thái độ nhân loại với tự nhiên”. Phê bình sinh thái các quốc gia ngoài phương Tây Việc mở rộng kinh điển sinh thái để bao gồm tất cả các nền văn học trên thế giới với sự đóng góp của các nhà phê bình toàn cầu được coi như là một cột 9 mốc gần đây nhất trong thực hành phê bình sinh thái. Mặc dù, thành viên của Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường (ASLE) cho đến nay phần lớn là các học giả nổi tiếng Anh, làm việc trên các văn bản tiếng Anh nhưng cũng đã có những nỗ lực đáng chú ý nhằm khám phá các vấn đề môi trường và hướng đến phê bình môi trường trong các truyền thống văn học ở Châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, Hàn Quốc, hay các nền văn học tiếng Hán. Nói cách khác, phê bình sinh thái có gốc gác trong các tác phẩm lý thuyết cuối thế kỷ XX của Raymond Williams ở Anh, Lawrence Buell ở Hoa Kỳ, Kate Rigby và những học giả khác ở Úc nghiên cứu phê bình sinh thái cổ điển chủ yếu dựa trên văn bản tiếng Anh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phê Bình Sinh Thái Trong Thơ Mới Việt Nam (1932-1945)" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của thơ ca Việt Nam trong giai đoạn này, đặc biệt là cách mà các nhà thơ đã phản ánh mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tác phẩm không chỉ phân tích các yếu tố sinh thái trong thơ mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong bối cảnh xã hội hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách mà thơ ca có thể truyền tải thông điệp về sinh thái, từ đó nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề sinh thái trong văn học, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ chủ đề sinh thái trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp, nơi khám phá sâu hơn về sinh thái trong truyện ngắn. Ngoài ra, tài liệu Luận văn pb sinh thái Thùy Linh cũng sẽ cung cấp những góc nhìn bổ ích về vấn đề này. Những liên kết này sẽ giúp bạn có thêm nhiều thông tin và cái nhìn đa chiều về sinh thái trong văn học Việt Nam.