Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Phê bình sinh thái như là một hướng tiếp cận văn học Chương 3: Những bình diện sinh thái của mối quan hệ tự nhiên và con người trong Thơ mới Chương 4: Ngôn ngữ và biểu tượng sinh thái trong Thơ mới 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu phê bình sinh thái ở nƣớc ngoài 1. Phê bình sinh thái ở phương Tây Cho đến nay phê bình sinh thái đã trở thành một xu hướng nghiên cứu liên ngành và không ngừng mở rộng.Trên đại thể, phê bình sinh thái đã trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất gắn với thời kỳ lãng mạn; Giai đoạn thứ hai là sự gặp gỡ các diễn ngôn sinh thái và diễn ngôn hậu thực dân sinh thái. Đây là hướng nghiên cứu văn học khởi nguồn từ Mỹ vào những năm 1960 - 1970 và mở rộng ra các nước phương Tây.
Phê bình sinh thái nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Nếu như phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ với văn học dưới góc độ của ý thức về giới, phê bình Marxist đưa ý thức về các hình thái sản xuất và các tầng lớp kinh tế vào việc đọc văn bản thì phê bình sinh thái lại lấy cách tiếp cận lấy trái đất - tự nhiên làm trung tâm khi phân tích tác phẩm văn học. Mặc dù phê bình sinh thái đã manh nha từ trước, nhưng phải đến những năm 70 của thế kỷ XX, khi Joseph W. Meeker cho xuất bản Sinh thái học của văn học chính thức đề xuất tên gọi sinh thái học văn học (literary ecology) thì các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm sâu sắc đến mối quan hệ giữa văn hóa và văn học với môi trường.
Cũng từ đây phê bình sinh thái trở thành một lĩnh vực nghiên cứu văn học được quan tâm trên thế giới. Thời kỳ đầu Năm 1973, Raymond Williams – học giả người Anh công bố cuốn Nông thôn và thành thị (The country and the city). Đây là công trình được xem là khởi đầu của nghiên cứu phê bình sinh thái ở nước Anh.Tác giả đã làm rõ mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn trong văn học Anh từ lập trường của chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái. Ông đã chỉ rõ đó là mối quan hệ vừa chứa đựng sự mâu thuẫn lại vừa thống nhất.
Waage cho ra đời cuốn sách Dạy văn học môi trường: tài liệu, phương pháp và tiềm năng phát triển (Teaching environmental literature materials methods resources). Với “mục đích thúc đẩy mọi người 6 tăng cường quan hệ và hiểu biết sâu hơn về vấn đề môi trường trong văn học” [143] cuốn sách đã như một gợi ý cho các giáo sư Mĩ mở các môn học liên quan đến văn học sinh thái và tiến hành nghiên cứu lĩnh vực này. Năm 1989, tại Mỹ đã dành một bản tin có tên Bản tin sáng tác về đề tài tự nhiên trong văn học Mỹ (The American nature writing newsletter) để đăng tải những bài viết về phê bình sinh thái. Và cũng năm này, trong Đại hội “Hội văn học miền Tây”, học giả Cheryll Glotfelty công bố báo cáo Vì một nền phê bình văn học sinh thái (Toward an ecological literary criticism) và Lough với bài Định giá lại tự nhiên: Vì một nền phê bình sinh thái học (Revaluing nature: Toward and ecological criticism), với hai báo cáo nói trên các học giả đã góp phần đề xướng và làm sống lại thuật ngữ phê bình sinh thái.
Năm 1990 đánh dấu sự ra đời bộ sách đồ sộ có tên Cuốn sách viết về tự nhiên (The norton: book of nature writing) do Robert Finch và John Elder chủ biên. Cuốn sách dày gần 1000 trang đã giới thiệu những tác phẩm quan trọng viết về tự nhiên của các nhà văn Âu Mĩ từ thế kỉ XVIII. Đây có thể xem như là một tài liệu quý bổ sung hữu ích cho người nghiên cứu tìm hiểu về văn học sinh thái. Có thể nhận thấy, thời kỳ đầu những nghiên cứu về văn học và môi trường đã bắt đầu được chú ý và ngày càng gia tăng trên thế giới.
Song hầu như chỉ tập trung vào các nghiên cứu ở Anh và Mỹ đặc biệt là miền Tây nước này. Nhiều công trình tập trung viết về cái hoang dại, sự hiển linh của cá nhân, chỉ ra sự hài hòa, cân bằng giữa con người với thiên nhiên – những thứ thực ra là do văn hóa con người và ngôn ngữ con người tạo ra chứ không phải là thực tế thiên nhiên có như vậy. Chính vì thế, các nhà phê bình sinh thái gọi đây là giai đoạn tụng ca phê bình sinh thái. Thời kỳ phát triển Phê bình sinh thái ra đời ở Hoa Kì và bắt đầu phát triển mạnh vào những năm 90.
Đặc biệt là sự ra đời của Hội nghiên cứu văn học và môi trường (The Association for the study of study of literature and environment), gọi tắt là ASLE được thành lập ở trường đại học Nevada Mĩ vào năm 1992. Đây là một tổ chức học thuật phê bình sinh thái mang tính quốc tế, thường xuyên tổ chức 7 các cuộc thảo luận, xuất bản các tập san của hội, giới thiệu những thành quả phê bình sinh thái mới nhất. Năm 1993, tạp chí Nghiên cứu liên ngành văn học và môi trường (Interdisciplinary studies in literature and environment) gọi tắt là ISLE ra đời. Tạp chí sau đó trở thành cuốn sách học thuật có tính hạt nhân trong lĩnh vực phê bình sinh thái, mỗi số đều có dung lượng hàng trăm trang.
Cùng với sự ra đời của ASLE, ISLE đã làm tăng tính học thuật cho các thành quả nghiên cứu phê bình sinh thái. Năm 1998, tại Luân Đôn, R. Sammells chủ biên tuyển tập Viết về môi trường: Phê bình sinh thái và văn học (Writing the environment:Ecocriticism and literature). Tác giả là những nhà phê bình sinh thái Âu Mỹ đã giới thiệu phê bình sinh thái từ góc độ nhân văn, thể hiện nhiều lập trường nghiên cứu của các nhà phê bình sinh thái.
Phê bình sinh thái phát triển thực sự mạnh mẽ và sâu rộng. Hàng loạt các công trình nghiên cứu ra đời khiến văn học môi trường trở thành hiện tượng văn học mang tính toàn cầu. Đặc biệt phê bình sinh thái còn trở thành môn học trong nhiều trường đại học ở Anh và Mỹ. Đại học Naveda là trung tâm giảng dạy và nghiên cứu văn học sinh thái của toàn nước Mỹ.
Ở đây tập hợp nhiều giáo sư, nghiên cứu sinh chuyên nghiên cứu văn học sinh thái. Bên cạnh đó là các trường đại học như Virginia, Arizona, Georgia, Oregen….đều là cơ sở quan trọng của phê bình sinh thái. Năm 2000, cũng là năm phát triển mạnh của phê bình sinh thái với sự công bố hàng loạt công trình phê bình sinh thái xuất sắc như Tính đa ngành trong nghiên cứu văn học viết về tự nhiên (Father afield in the study of nature – oriented literature) của Patrick D. Murphy; Cuốn Chủ nghĩa môi trường trong văn học Mỹ (American literary environmentalism) của David Mazel; Bài ca trái đất (The song of the earth) của Jonathan Bate; Tuyển tập nghiên cứu xanh; từ chủ nghĩa lãng mạn đến phê bình sinh thái (The green studies reader: From romanticism to ecocriticism) của Laurence Coupe; Ý thức nơi chốn của Thoreau: Những tiểu luận về văn học môi trường Mỹ (Thoreau’s sense of pace: Essays in American environmental writing) của Richard J.
Schneider …Với sự 8 ra đời của rất nhiều các tác phẩm phê bình sinh thái nói trên đã cho thấy tiềm năng phát triển của lĩnh vực nghiên cứu này. Năm 2008, Scott Slovic cho xuất bản cuốn sách Đi xa để suy nghĩ: Nhập thế, xuất thế và trách nhiệm của phê bình sinh thái (Going away to think: Engagement, retreat, and ecocritical responsibility). Tại đây, tác giả đã đề xuất trách nhiệm của sinh thái chính là sự dung hợp của hai luồng tư tưởng “nhập thế” và “xuất thế”, nghĩa là nhà phê bình sinh thái cần tham gia vào việc hưởng thụ tự nhiên nhưng cũng nêu cao tinh thần chăm sóc và bảo vệ tự nhiên. Năm 2009, Peter Barry cung cấp thêm một công trình có đề cập đến một vấn đề lý thuyết mới của phê bình sinh thái bao gồm các vấn đề như: chủ nghĩa nhân văn tự do, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc… Lý thuyết nhập môn: Giới thiệu về lý thuyết văn học và văn hóa (Beginning theory: An introduction to literary and cultural theory).
Cũng trong năm này nhiều chuyên luận đã đề cập đến phê bình sinh thái đô thị như Tự nhiên của đô thị: Phê bình sinh thái và môi trường đô thị (The nature of cities: Ecocriticism and urban environments)của Michael Bennett và David W. Teague; Xem xét lại công viên đô thị: Không gian công cộng và đa dạng văn hóa (Rethinking urban parks: Public space and cultural diversity) của Setha Low, Dana Taplin và Suzanne Scheld. Khởi nguồn ở Anh và Mỹ, phê bình sinh thái đã mở rộng nghiên cứu ra toàn cầu. Nếu như phê bình sinh thái manh nha hình thành khoảng từ những năm 70 của thế kỉ XX, phát triển mạnh khoảng từ năm 1990 đến năm 2007 thì sang khoảng năm 2008 vẫn trên đà phát triển đó phê bình sinh thái đã có nhiều sự chuyển hướng trong nghiên cứu, mở rộng nhiều hơn tới các vấn đề giới, chủng tộc và giai cấp cũng như nhấn mạnh đến các góc nhìn liên văn hóa… Điều đó càng chứng tỏ sự hứa hẹn phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu phát triển và mang tính toàn cầu.
Song trên hết, chúng ta phải thừa nhận ý nghĩa đúng đắn của sứ mệnh phê bình sinh thái: “Góp phần thay đổi thái độ nhân loại với tự nhiên”. Phê bình sinh thái các quốc gia ngoài phương Tây Việc mở rộng kinh điển sinh thái để bao gồm tất cả các nền văn học trên thế giới với sự đóng góp của các nhà phê bình toàn cầu được coi như là một cột 9 mốc gần đây nhất trong thực hành phê bình sinh thái. Mặc dù, thành viên của Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường (ASLE) cho đến nay phần lớn là các học giả nổi tiếng Anh, làm việc trên các văn bản tiếng Anh nhưng cũng đã có những nỗ lực đáng chú ý nhằm khám phá các vấn đề môi trường và hướng đến phê bình môi trường trong các truyền thống văn học ở Châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, Hàn Quốc, hay các nền văn học tiếng Hán. Nói cách khác, phê bình sinh thái có gốc gác trong các tác phẩm lý thuyết cuối thế kỷ XX của Raymond Williams ở Anh, Lawrence Buell ở Hoa Kỳ, Kate Rigby và những học giả khác ở Úc nghiên cứu phê bình sinh thái cổ điển chủ yếu dựa trên văn bản tiếng Anh.