phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm các phần sau: Chƣơng 1: Vài nét về Thanh Hoá và sự nghiệp y tế dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trƣớc năm 1986. Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo phát triển y tế (1986- 2005) Chƣơng 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm 9 z CHƢƠNG 1 VÀI NÉT VỀ THANH HOÁ VÀ SỰ NGHIỆP Y TẾ DƢỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TRƢỚC NĂM 1986 1.1 Vài nét khái quát về Thanh Hoá 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Thanh Hóa là vùng đất có từ lâu đời, một trong những cái nôi của dân tộc Việt Nam. Ngay từ thời tiền sử vùng đất này đã có người sinh sống. Qua những công cụ thô sơ trong những xưởng chế tác đá công cụ ở núi Đọ (Thanh Hóa) cho thấy, người tiền sử đã sinh sống trên mảnh đất này từ thời đại đồ đá cũ.
Ngoài ra, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy nhiều công cụ đồ đá đẽo gọt tinh xảo khác không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam, ở Đông Nam Á mà còn được cả thế giới biết đến. Mặt khác, Thanh Hóa còn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả trong lĩnh vực quân sự lẫn kinh tế. Vì vậy, mảnh đất này là nơi phát sinh nhiều triều đại phong kiến Việt Nam gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Với những kỳ tích đó, Thanh Hóa được ví như một hình ảnh thu nhỏ của Việt Nam, theo lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là mảnh đất “địa linh, nhân kiệt, đất đai màu mỡ, phì nhiêu….
Cũng như những vùng đất khác trên nước Việt Nam, trải qua quá trình lịch sử hàng nghìn năm, Thanh Hóa cũng thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi. Tên đơn vị hành chính Thanh Hóa được thay đổi qua các thời kỳ theo phương thức cai trị của bộ máy trung ương toàn lãnh thổ. Thời Hùng Vương, Thanh Hóa thuộc bộ Cửu Chân của vương quốc Văn Lang. Thời thuộc Hán, đất Thanh Hóa ngày nay là một phần quận Cửu Chân, thuộc bộ Giao Chỉ.
Thời Tam Quốc-Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, Thanh Hóa tương đương với quận Cửu Chân. Đến nhà Lương đặt là Ái Châu, đất Thanh Hóa từ “quận” chuyển thành “châu”. Sang thời Tùy-Đường, Thanh Hóa lại được đặt lại tên 10 z cũ là quận Cửu Chân. Thời Đinh-Tiền Lê, Thanh Hóa vẫn là Ái Châu.
Thời Lý-Trần, tên đơn vị hành chính của tỉnh Thanh Hóa được đổi sang “lộ” và “phủ”, sang đó được đổi thành “trấn” ở thời Trần-Hồ, “thừa tuyên” ở đầu thời Lê, “xứ” thời Hồng Đức. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đổi tên là tỉnh Thanh Hoa. Đến năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) đổi là tỉnh Thanh Hoá. Tên gọi tỉnh Thanh Hoá bắt đầu có từ đây.
Dưới thời thuộc Pháp, Thanh Hóa là một tỉnh thuộc xứ Trung Kỳ, có một tỉnh lỵ, 14 phủ, huyện đồng bằng, trung du và 6 châu thượng du. Từ sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Thanh Hóa là một tỉnh thuộc Liên khu IV cả về hành chính và quân sự. Các phủ, huyện, châu cũ được đổi thành 21 huyện và một thị xã. Đến năm 1995, bản đồ địa lý hành chính tỉnh Thanh Hóa chính thức gồm: 1 thành phố, 2 thị xã và 20 huyện.
Từ năm 1999, theo Nghị định số 72/CP của Chính phủ ngày 05/08/1999 về việc điều chỉnh địa giới hành chính và cho đến hiện nay, tỉnh Thanh Hóa gồm 27 huyện, thị, thành phố với 630 xã, phường, thị trấn, 5.759 thôn, xóm, làng, bản, phố [82, tr. Trong đó có 11 huyện miền núi là: Bá Thước, Cẩm Thủy, Lang Chánh, Mường Lát, Như Thanh, Như Xuân, Ngọc Lặc, Quan Hóa, Quan Sơn, Thạch Thành, Thường Xuân; 5 huyện ven biển: Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Nga Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia; 8 huyện đồng bằng trung du là: Đông Sơn, Hà Trung, Nông Cống, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Vĩnh Lộc, Yên Định; thành phố Thanh Hóa và 2 thị xã: Bỉm Sơn và Sầm Sơn. Thanh Hóa là tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ. Thanh Hóa có vỹ độ Bắc 19033'- 20030', kinh độ Đông 1140-106030'.
Phía Bắc Thanh Hóa giáp các tỉnh Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La với đường ranh giới dài 175 km. Phía Nam và Tây Nam liền kề Nghệ An với đường ranh giới dài hơn 160 km. Phía Tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với 11 z đường biên giới dài 192 km. Phía Đông, mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc Biển Đông, với đường bờ biển dài trên 102 km và một thềm lục địa khá rộng.
Phần đất liền của Thanh Hóa chạy dài theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam. Thanh Hóa có mạng lưới giao thông phát triển khá hoàn chỉnh. Thanh Hóa nằm án ngữ trên nhiều tuyến đường giao thông quan trọng nối liền mạch máu giao thông Bắc-Nam. Tỉnh Thanh Hóa từ rất sớm được xem là nơi tập trung các đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng trong cả nước, nên việc đi lại và phát triển kinh tế của nhân dân rất thuận lợi.
Dọc chiều dài toàn tỉnh là Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc-Nam chạy qua, trong đó có các điểm mút giao thông quan trọng như: Cầu Lèn, cầu Hàm Rồng, bến phà Ghép. Đường 15A từ phía Tây, Tây Bắc Bộ xuyên qua vùng trung du và miền núi phía Bắc Thanh Hóa kéo dài về phía Nam sang đất Nam Đàn (Nghệ An). Đường 217 từ Na Mèo đến tỉnh lỵ Hủa Phăn (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào). Ngoài ra còn có nhiều hệ thống đường nhánh tỏa đi khắp tỉnh, nối liền các tỉnh khác trong và ngoài nước….Do đó, trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Thanh Hóa luôn là mục tiêu bị đánh phá ác liệt.
Hệ thống giao thông đường thủy với bờ biển dài 102 km và một vùng thềm lục địa rộng lớn được đánh giá là một kho tài nguyên vô giá về khoáng sản và hải sản. Ngoài tiềm năng về kinh tế, vùng biển và thềm lục địa còn được đánh giá là có vị trí chiến lược, có nhiều điểm xung yếu về quốc phòng, tạo thành nhiều mục tiêu quân sự và các điểm cao quan trọng. Thanh Hoá là tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc (Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh) và những tác động từ các vùng trọng điểm kinh tế phía Trung Bộ và Nam Bộ nên có một vị trí rất thuận lợi trong giao lưu với các tỉnh, thành phố trong cả nước và giao lưu quốc tế. 12 z Thanh Hóa có đủ các dạng địa hình: từ núi tương đối cao đến đồi trung du, đồng bằng, đồng chiêm trũng (nhiều vùng mặt đất còn thấp hơn mực nước biển), đến bãi bồi, ruộng vùng ven biển, các đảo ven bờ và ngoài khơi.
Địa hình Thanh Hóa có đồi núi chiếm 3/4 diện tích cả tỉnh, nhiều đồi núi cao từ 1.500 m gắn liền với vùng rừng núi thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào). Từ đây, địa hình thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam. Đến ngang vùng trung tâm của tỉnh, chỉ còn các núi đồi cao trên dưới 500 m, từ độ cao 20 m trở xuống là đồng bằng, tiếp theo là vùng thềm lục địa rộng và nông dưới đáy vịnh Bắc Bộ. Khí hậu Thanh Hóa mang đặc điểm của vùng khí hậu Bắc Bộ với một mùa đông (tuy ngắn) lạnh và khô, vừa mang những tính chất riêng của khí hậu Trung Bộ.
Mùa mưa muộn hơn các nơi khác và bão muộn hơn Bắc Bộ. Đồng thời, Thanh Hóa còn có những ngày khô nóng do chịu ảnh hưởng gió phơn Tây Nam thổi từ Lào sang. Nhìn chung, khí hậu Thanh Hóa có tính chất chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Trung Bộ với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23-240c ở vùng đồng bằng-trung du; 200c ở vùng núi.
Lượng mưa trung bình 1600-2000 mm/năm. Số ngày mưa 130-150 ngày và mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Diện tích đất tự nhiên của Thanh Hoá là 1.609 ha, trong đó đất nông nghiệp 236.740 ha, đất lâm nghiệp 375.439 ha, đất chuyên dùng 55.453 ha, đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá 429. Do địa hình toàn tỉnh nghiêng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tạo cho hầu hết các sông suối đều bắt nguồn từ miền núi chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam đổ ra biển Đông đều ngắn (trừ sông Mã dài 528 km, trên địa phận Thanh Hóa dài 242 km) có độ dốc lớn, biến thiên từ 5,4% đến 23,7%.
Ở vùng sát biển, sông có độ dốc nhỏ và chịu ảnh hưởng của thủy triều. Tổng diện tích chiều dài của 16 sông chính và nhánh là 1. Mật độ sông ngòi không 13 z lớn, biến đổi từ 0,1-1,06 km/km2. Từ Bắc vào Nam, Thanh Hóa có 4 hệ thống sông chính là: sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Lạch Bạng.
Hệ thống sông ngòi không những liên tục được phù sa bồi đắp tạo thành vùng châu thổ rộng lớn mà còn là nguồn nước chủ yếu phục vụ sản xuất và đời sống, đồng thời là hệ thống giao thông đường thủy nối liền các vùng trong tỉnh và tỉnh bạn. Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ dân tộc, sông ngòi có vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển lương thực, vũ khí, thuốc men và chở người tham gia chiến đấu tới các chiến trường trong nước và các chiến trường trên bán đảo Đông Dương. Thanh Hóa là tỉnh có hệ thực vật đa dạng, trong hệ thực vật đó tiềm lực dược liệu rất phong phú. Những cây con làm thuốc và các bài thuốc dân gian, thuốc gia truyền là tài sản quý giá của xứ Thanh.
Theo thống kê, tỉnh Thanh Hóa có 714 loài thuốc, 514 chi, 167 họ, 82 bộ, 11 lớp, trong đó có hơn 600 loài cây thuốc mọc tự nhiên, phần lớn tập trung ở vùng rừng đất đai thấp. Những loài cây có nhiều ở vùng núi đất là Thiên niên kiện, Sa nhân, Bách bộ, Cẩu tích, Ngũ gia bì chân chim, Ba gạc, Củ mài, Đẳng sâm, Lá khôi, Thổ phục linh, Hoàng đàn và Thạch xương bồ. Trên núi đá vôi thường gặp Lan một lá, Thạch hộc, Vương tùng, Củ bình vôi, Huyết giác, Cốt toái bổ và Chân chim núi. Ở các trảng cây bụi hay gặp Báo sâm, Ba kích, Cà gai leo, Kim ngân, Thảo quyết minh, Nhân trần, Hy thiêm….Trên các đụn cát ven biển có Củ gấu biển và Dừa cạn.
Ở vùng đồng bằng có Dành dành. Trước đây mỗi năm có lúc khai thác tới vài trăm tấn dược liệu mọc tự nhiên.