CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 1. Đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi trẻ em Chuyển từ cấp Mầm non sang cấp Tiểu học, học sinh các lớp đầu cấp Tiểu học vẫn có nhu cầu vui chơi rất lớn (mặc dù học tập đã trở thành hoạt động chủ đạo). Việc tổ chức học tập có yếu tố vui chơi hợp lí là rất cần thiết để giúp trẻ thực hiện nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng, thoải mái, đầy hứng thú.
Những hiểu biết về đặc điểm tâm lý lứa tuổi, về hoạt động học của các em là cơ sở khoa học để giáo viên thực hiện tốt việc này. Hệ thần kinh của HS Tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh. Đến chín, mười tuổi hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ được giữ lại trong suốt cuộc đời. Trong thời kì này các em sẽ có những đặc điểm tâm lý như khả năng kìm hãm (khả năng ức chế) của hệ thần kinh còn yếu, dễ bị kích thích.
Tri giác mang tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi tiết, mang tính không chủ động, gắn với hành động và với hoạt động thực tiễn. Tuy vậy trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tích tách dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng cụ thể. Chú ý không chủ định còn chiếm ưu thế ở HS Tiểu học. Do thiếu khả năng tổng hợp nên sự chú ý chưa bền vững, hay bị phân tán nhất là đối với các đối tượng ít thay đổi, dễ bị lôi cuốn vào cái trực quan, gợi cảm.
Đồng thời do trường chú ý hẹp nên HS Tiểu học không biết tổ chức sự chú ý, sự chú ý thường hướng ra bên ngoài vào các hoạt động chứ chưa hướng vào bên trong, vào hoạt động trí tuệ. Chẳng hạn, trong giờ học mà GV sử dụng đồ dùng trực quan mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường thì sẽ làm cho các em thích thú, chăm chú vào những đồ vật đó mà quên mất rằng đồ vật đó chỉ có tính minh họa cho bài học, cái các em cần nắm bắt là những kiến thức trong bài học chứ không phải nhận biết các đồ vật rực rỡ nhiều màu sắc đó. Tuy nhiên với HS cuối cấp Tiểu học khả năng chú ý có chủ định, bền vững, tập trung là rất cao ngay cả khi với động cơ xa (không phải học chỉ để được điểm cao, để được cô giáo khen, để được bố mẹ thưởng,. Đặc điểm về phát triển nhận thức Ở tuổi học sinh nhỏ diễn ra sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức, trong đó đáng kể nhất là sự phát triển của tri giác, trí nhớ, chú ý, tưởng tượng và tư duy.
Tri giác của học sinh đầu cấp Tiểu học còn mang tính tổng thể, ít đi vào chi tiết. Ở học sinh đầu cấp Tiểu học, trí nhớ không chủ định còn chiếm ưu thế. Các em thường ghi nhớ những gì chúng thích, trí nhớ hình ảnh tốt hơn trí nhớ ngôn ngữ. Học tập thông qua trò chơi sẽ giúp học sinh ghi nhớ dễ dàng và lâu dài hơn.
Chú ý của học sinh Tiểu học còn nặng tính không chủ định, nhưng kích thích mạnh và mới lạ dễ thu hút sự chú ý của học sinh. Việc cho trẻ học dưới hình thức chơi với những trò chơi học tập sôi nổi cũng là một cách để tăng cường sự chú ý của học sinh. Về tưởng tượng của trẻ trong thời kỳ này chủ yếu là tưởng tượng tái tạo. Việc tổ chức trò chơi học tập là một trong những cách thức kích thích trí tưởng tượng của các em.
Trong khi chơi, tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo của các em đều được phát triển tốt. Tư duy của trẻ Tiểu học cũng có sự phát triển. Việc giảng dạy ở trường Tiểu học làm thay đổi cơ bản về nội dung tri thức mà trẻ tiếp thu và phương pháp vận dụng các tri thức đó của trẻ. Tuy vậy, tư duy của học sinh đầu Tiểu học vẫn mang nặng tính trực quan cụ thể.
Đặc điểm về nhân cách Có thể nói học sinh Tiểu học là những nhân cách đang hình thành và có nhiều khả năng phát triển. Một vấn đề nổi bật nhất trong nhân cách của học sinh Tiểu học là đời sống tình cảm của các em. Việc tổ chức tốt đời sống và hoạt động tập thể cho học sinh Tiểu học là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho các em. 9 Về ý chí của học sinh Tiểu học cũng đang hình thành và phát triển.
Tuy nhiên, những phẩm chất ý chí của các em như tính kiềm chế, độc lập, tự chủ, tính kiên trì còn yếu. Tính cách của học sinh đầu cấp Tiểu học mới chỉ được hình thành. Điểm nổi bật nhất trong tính cách của các em là tính xung đột - khuynh hướng hành động ngay tức khắc do ảnh hưởng của các kích thích trực tiếp trong tính cách của các em có nhiều mâu thuẫn và chưa bền vững. Đặc điểm của nhân cách người có tư duy sáng tạo: Một số nhà tâm lý học Liên xô (cũ) thì cho rằng những người sáng tạo có những đặc điểm sau: có tính mục đích và kiên trì, say mê với công việc, độc đáo trong cảm xúc và trí tuệ, có năng lực tự lập và tự chủ cao, có niềm tin mãnh liệt và khả năng vượt qua những trở ngại bên ngoài.
Ngoài ra, khi nghiên cứu thuộc tính của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã khái quát những thuộc tính tạo thành nhân cách sáng tạo của họ như: phương pháp giải quyết khác thường; nhìn trước được các vấn đề; nắm được mối liên hệ cơ bản; nhìn từ các con đường, các cách giải quyết khác nhau một cách tích cực; chuyển từ mô hình này sang mô hình khác; nhạy cảm với các vấn đề mới từ các vấn đề cũ đã giải quyết xong; biết trước kết quả; nắm được các tư tưởng khác nhau trong một tình huống nào đó; phân tích các sự kiện theo một trật tự tối ưu từ đó tìm ra tư tưởng chung; giải đáp được những tình huống đặc biệt. Tóm lại, mặc dù tính sáng tạo của TD được xây dựng trên mặt bằng trí lực nhưng không phải tất cả những người có trí lực cao đều có TDST. Bởi vì, TDST còn gắn bó mật thiết với những phẩm chất nhân cách của mỗi người. Chúng tôi cho rằng những phẩm chất, thuộc tính như lao động chuyên cần, say mê, kiên trì với công việc và lòng tin mãnh liệt cùng nhiều phẩm chất khác như: độc lập, tự tin, tò mò, hiếu kỳ, dũng cảm, biết nghi ngờ, thích phiêu lưu, linh hoạt, nhạy cảm,… là những phẩm chất tiêu biểu của người có TDST.
Trong DH, muốn phát triển TDST cho HS, người GV cần có những tác động nhằm khơi gợi, hình thành những phẩm chất, thuộc tính của nhân cách sáng tạo cho HS. Hoạt động học tập của học sinh Luật Giáo dục năm 2005 quy định tuổi của học sinh Tiểu học từ 6 đến 14 tuổi, học từ lớp 1 đến lớp 5. Trẻ ở giai đoạn phát triển cấp Tiểu học có thể phân chia thành hai giai đoạn bởi sự khác nhau về trình độ hình thành hoạt động học và những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh. Đó là giai đoạn Tiểu học bậc 1 đối với trẻ em từ lớp 1 đến lớp 3 và giai đoạn Tiểu học bậc 2 đối với trẻ em lớp 4 và lớp 5.
Học sinh lớp 1 thực hiện bước chuyển hoạt động chủ đạo: từ vui chơi sang học tập. Quá trình học tập của học sinh lớp 1 là quá trình hình thành ở các em hoạt động học đích thực, trong đó việc hình thành cách học, hình thành các thao tác trí óc nổi lên hàng đầu. Đó là các chất cần đạt được tuy chỉ là những yếu tố ban đầu rất thô sơ. Lên lớp 2, hoạt động học đích thực được tiếp tục hình thành và định hình tương đối rõ nét, đồng thời xuất hiện một số phẩm chất mới, nét mới trong tâm lí trẻ như tiền đề của một kiểu tư duy mới (tư duy khoa học), thái độ và cách cư xử kiểu học sinh đối với thế giới xung quanh.
Đến lớp 3, hoạt động học về cơ bản đã được hình thành ở học sinh, tạo điều kiện cho các em chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn. Ở lớp 4 và lớp 5: Những thao tác về tư duy như phân loại, phân hạng tính toán, không gian, thời gian,. được hình thành và phát triển mạnh. Như vậy, ở Tiểu học điều quan trọng đầu tiên là làm thế nào để phát triển ở trẻ hứng thú nhận thức bền vững, trẻ ham thích say mê học tập để các em thấy được "mỗi ngày đến trường là một ngày vui".
Đặc điểm môn Toán các lớp Tiểu học 1. Mục tiêu môn Toán ở trường Tiểu học Dạy học toán ở trường Tiểu học nhằm giúp học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống đồng thời góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và 11 diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo. Nhưng cũng đồng thời đảm bảo cung cấp cho HS đầy đủ chính xác, đúng quy trình các kiến thức cơ bản về số học, đại lượng và đo đại lượng về một số YTHH và thống kê đơn giản.
Thực hiện được quan điểm tích hợp trong dạy toán ở Tiểu học. Ví dụ: Khi dạy cho HS khái niệm về số thập phân để học sinh hiểu rõ bản chất của phân số thì đầu tiên GV đưa ra một hình học nào đó là đơn vị (có thể là hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật) sau đó tiến hành chia thành một số phần bằng nhau. Tô màu hay lấy đi một số phần. Từ đây hình thành cho HS nội dung kiến thức.
Nội dung chương trình môn Toán ở Tiểu học Chương trình toán ở Tiểu học thống nhất với 5 mạch nội dung: 1. Đại lượng và đo đại lượng [Phụ lục trang 4] 3. Yếu tố hình học [Phụ lục trang 4] 4. Giải toán có lời văn [Phụ lục trang 2] 5.