CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/08/2021 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV thì DNNVV được định nghĩa “là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại Điều 5 Nghị định này”. Cụ thể như trong các sơ đồ sau đây: Số lao động tham gia Tổng nguồn vốn Tổng doanh thu BHXH bình quân năm doanh nghiệp doanh nghiệp Doanh nghiệp siêu nhỏ ≤ 10 người ≤ 3 tỷ đồng ≤ 3 tỷ đồng Doanh nghiệp ≤ 100 người ≤ 20 tỷ đồng ≤ 50 tỷ đồng nhỏ Doanh nghiệp ≤ 200 người ≤ 100 tỷ đồng ≤ 200 tỷ đồng vừa Ghi chú: và hoặc Sơ đồ 1.
Quy mô doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp và xây dựng Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Nghị định số 80/2021/NĐ-CP Quy mô doanh nghiệp có thể hiểu là việc phân chia doanh nghiệp. Hiểu nôm na chung chung về quy mô doanh nghiệp là kích thước của một đơn vị, tổ chức kinh doanh. Quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quy mô càng lớn, cơ cấu tổ chức càng phức 12 tạp, đòi hỏi phải hình thành nhiều cấp quản trị hơn và ở mỗi cấp cũng bao gồm nhiều nơi làm việc hơn, nhiều thủ tục chính thức hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Theo Nghị định số 80/2021/NĐ-CP thì xác định quy mô doanh nghiệp trước hết cần xác định lĩnh vực, ngành nghề chính (theo Đăng ký kinh doanh) của doanh nghiệp đó. Theo đó, trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp và xây dựng thì quan sát Sơ đồ 1. có thể thấy rằng, doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ là những doanh nghiệp có số lao động đóng BHXH là từ 10 người trở xuống, tổng vốn doanh nghiệp chỉ là 3 tỷ đồng trở xuống, tổng doanh thu của doanh nghiệp là 3 tỷ đồng trở xuống. Đối với doanh nghiệp nhỏ thì số lao động nằm trong khoảng dưới 100 người, tổng vốn dưới 20 tỷ đồng và doanh thu dưới 50 tỷ đồng.
Đối với doanh nghiệp vừa thì có khoảng dưới 200 lao động, tổng vốn dưới 100 tỷ đồng và doanh thu dưới 200 tỷ đồng. Số lao động tham gia Tổng nguồn vốn Tổng doanh thu BHXH bình quân năm doanh nghiệp doanh nghiệp Doanh nghiệp siêu nhỏ ≤ 10 người ≤ 3 tỷ đồng ≤ 10 tỷ đồng Doanh nghiệp ≤ 50 người ≤ 50 tỷ đồng ≤ 100 tỷ đồng nhỏ Doanh nghiệp ≤ 100 người ≤ 100 tỷ đồng ≤ 300 tỷ đồng vừa Ghi chú: và hoặc Sơ đồ 1. Quy mô doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Nghị định số 80/2021/NĐ-CP Với lĩnh vực thương mại và dịch vụ thì quan sát Sơ đồ 1. có thể thấy rằng, doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ là những doanh nghiệp có số lao động đóng BHXH là từ 13 10 người trở xuống, tổng vốn doanh nghiệp chỉ là 3 tỷ đồng trở xuống, tổng doanh thu của doanh nghiệp là 10 tỷ đồng trở xuống.
Đối với doanh nghiệp nhỏ thì số lao động nằm trong khoảng dưới 50 người, tổng vốn dưới 50 tỷ đồng và doanh thu dưới 100 tỷ đồng. Đối với doanh nghiệp vừa thì có khoảng dưới 100 lao động, tổng vốn dưới 100 tỷ đồng và doanh thu dưới 300 tỷ đồng. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính hạn chế. Việc tổ chức hoạt động của DNNVV thường đơn giản không đầy đủ như các doanh nghiệp lớn.
Từ mô hình quản lý, phương pháp quản lý cho tới cơ cấu tổ chức của các bộ phận cấu thành cũng đều đơn giản hơn. Công tác tổ chức kế toán và công tác quản lý tài chính chủ yếu để cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thuế. Do đó, trong một số trường hợp, sự minh bạch thông tin còn khá hạn chế. Điều này khiến cho các DNNVV gặp một vài khó khăn trong việc tiếp cận với nhà đầu tư hoặc các tổ chức tín dụng để huy động vốn (ví dụ như hạn chế về thủ tục vay vốn, phương án sản xuất kinh doanh chưa hoàn thiện, tài sản bảo đảm chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng và nhà đầu tư).
Vì vậy, nguồn vốn của DNNVV chủ yếu là phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại. Thứ hai, các DNNVV hoạt động dưới những loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô nhỏ các doanh nghiệp có khả năng tận dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu tại địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường nên DNNVV phát triển nhanh chóng, là nhân tố đóng góp vào ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đặc điểm này cho thấy công tác tổ chức của các DNNVV hết sức đa dạng tương ứng với loại hình doanh nghiệp, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, hơn nữa DNNVV luôn luôn thay đổi về ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh để thích ứng với 14 thị trường, vì vậy công tác tổ chức trong các DNNVV thường linh hoạt với sự thay đổi môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh của các DNNVV vừa và nhỏ thường khá hạn chế Thông thường, các DNNVV xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn và trung hạn. Cũng bởi quy mô doanh nghiệp không lớn, doanh nghiệp thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, đặc biệt là những chiến lược có hiệu quả, các DNNVV dễ có xu hướng đi lệch với mục tiêu và sứ mạng ban đầu khi thành lập. Một số DNNVV có thể điều chỉnh lại để đi đúng hướng, nhưng cũng có không ít doanh nghiệp khó khăn trong việc quay lại quỹ đạo hoạt động của mình. Đặc biệt trong bối cảnh khoa học công nghệ thay đổi nhanh chóng từng ngày như hiện nay, các DNNVV sẽ thiếu vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất.
Hậu quả dẫn tới là các DNNVV sẽ sản xuất kinh doanh với mức chi phí cao, giá thành sản phẩm không cạnh tranh, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, truyền thông, quảng bá kém chất lượng. Thứ tư, hoạt động của DNNVV phụ thuộc rất lớn vào biến động của môi trường kinh doanh Quy mô vốn thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, nguồn vốn thiếu đa dạng dẫn đến mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNNVV tương đối thấp. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNNVV. Tuy vậy, với quy mô nhỏ, DNNVV cũng có những lợi thế nhất định khi dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, tăng giảm lao động, thậm chí di chuyển địa điểm sản xuất dễ dàng hơn các doanh nghiệp lớn.
Thứ năm, cơ cấu tổ chức giản đơn, bộ máy điều hành gọn nhẹ, linh hoạt nhưng năng lực quản trị chưa cao Với số lượng lao động không nhiều, tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như bộ máy quản lý trong DNNVV tương đối gọn, không có quá nhiều các khâu trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các quyết định đến với 15 người lao động một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc đưa ra các quyết định nhanh chóng kết hợp với việc thiếu nghiên cứu thị trường thường dẫn tới rủi ro cho DNNVV khi các quyết định thiếu tính chuẩn xác. Đây là hạn chế xuất phát từ thực tế một bộ phận ban lãnh đạo DNNVV ít được đào tạo chính quy, thiếu những kiến thức cơ bản về tài chính, luật pháp, quản trị kinh doanh… 1.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc chú trọng hỗ trợ DNNVV nhằm tối đa hoá nguồn lực của nền kinh tế là điều mà Đảng và Chính phủ Việt Nam cần ưu tiên bởi lực lượng DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam chiếm tỷ trọng khá lớn. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (2022), cả nước có khoảng 800.000 doanh nghiệp, trong đó DNNVV (doanh nghiệp SME) chiếm trên 98%. Hàng năm, các DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP, nộp NSNN 30%, đóng góp giá trị sản lượng công nghiệp 33%, giá trị hàng hóa xuất khẩu 30% và thu hút gần 60% lao động.
Chính bởi vậy, vai trò của DNNVV được khẳng định rõ hơn ở các khía cạnh như sau (Diệp Tố Uyên, 2021): Một là, DNNVV góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm trên thị trường lao động của Việt Nam. Đây là vai trò rất quan trọng đối với thị trường lao động Việt Nam. Một nền kinh tế muốn phát triển nhất thiết phải được tổ chức. DNNVV tạo ra tiền đề để tổ chức phát triển kinh tế theo hướng hiện đại và trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn và phát triển đa lĩnh vực.
Chính điều đó tạo ra tiền đề gia tăng nhu cầu nhân lực; từ đó trực tiếp giảm thất nghiệp cho người lao động. Việc giảm thất nghiệp luôn luôn là mục tiêu tối thượng của các quốc gia trong quá trình phát triển. Hai là, DNNVV góp phần gia tăng quy mô và tốc độ phát triển kinh tế. DNNVV trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng nhờ làm ra nhiều sản phẩm hàng hóa.
đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đây là điểm quan trọng không chỉ cho biết DNNVV có thể tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa. Nếu những sản phẩm hàng hóa này có chất lượng lại có nhiều giá trị gia tăng thì chắc chắn góp phần tạo ra nhiều giá trị kinh tế, 16 góp phần thịnh vượng nền kinh tế của quốc gia. Kinh tế có phát triển thì mới có điều kiện cải thiện mức sống dân cư và tạo ra tiền đề để tăng khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế để đầu tư tái mở rộng.