Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo quy định tại Điều 4 Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 năm 2017, xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: + Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; + Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Nguồn: Nghị định số 80/2021/NĐ-CP) 8 1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa mang đầy đủ yếu tố pháp lý của một doanh nghiệp theo Điều 4(10) Luật Doanh nghiệp 2020, đó là: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.” [15] Ngoài ra doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có một số đặc điểm về mặt kinh tế và quản trị doanh nghiệp như: Tính đa dạng Doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ…Đồng thời, quy mô của DNNVV cũng cho phép lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp; Và điều đó cho phép các doanh nghiệp nhỏ và vừa linh hoạt, thích ứng với những thay đổi của thị trường. Về quy mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ; sử dụng lao động ít hơn, doanh thu thấp hơn, trình độ quản lý doanh nghiệp và chất lượng nhân sự, công nhân của doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như chi phí đào tạo lao động không cao so với các loại hình doanh nghiệp khác. Tính dễ bị tổn thương Xuất phát điểm của các DNNVV thường có ít vốn và để đầu tư mở rộng sản xuất, hầu hết các doanh nghiệp đều cần phải vay vốn từ bên ngoài.
Do việc vay vốn cần có tài sản thế chấp nên cơ chế tiếp cận vốn này là một rào cản đối với các DNNVV. Ngoài ra, do nguồn vốn thấp nên các chủ DNNVV không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc đầu tư máy móc, công nghệ hiện đại cũng như tuyển dụng những người lao động có tay nghề cao. Bản thân người lao động có thể không được đào tạo hoặc đào tạo lại do kinh phí hạn chế nên trình độ tay nghề và kỹ năng của người lao động trong DNNVV còn tương đối thấp. DNNVV có khả năng linh hoạt hơn trong khởi nghiệp Với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, DNNVV có khả năng nhận biết nhanh chóng những thay đổi của nhu cầu thị trường và điều chỉnh phương hướng kinh doanh 9 nhanh chóng.
Điều này giúp họ phát huy tính sáng tạo, tính độc lập và lựa chọn sản phẩm, dịch vụ một cách nhạy bén.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế Trong những năm gần đây, DNNVV có vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Mỗi địa phương có đặc điểm phát triển kinh tế khác nhau thì vai trò của DNNVV cũng thể hiện ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên đều thể hiện rõ ràng trên các phương diện cơ bản: (i)Vai trò đối với kinh tế, (ii)vai trò đối với xã hội. Điều này được thể hiện như sau: Thứ nhất, các DNNVV có mặt ở đa số các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, góp phần làm đa dạng nền kinh tế trong cơ chế thị trường. Do có lợi thế qui mô nhỏ và vừa nên dễ linh động, sáng tạo hơn trong sản xuất kinh doanh, có thể kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá, đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Các DNNVV có vòng quay vốn ngắn, không đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, không cần có lao động có tay nghề cao, thâm nhập thị trường và rời khỏi thị trường dễ dàng. Thứ hai, các DNNVV góp phần tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, giảm thiểu áp lực về việc làm và thất nghiệp. Hiện nay, giải quyết việc làm cho người lao động góp phần ổn định xã hội và an sinh xã hội là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của đất nước. Trên thực tế, DNNVV tạo ra việc làm cho số lượng lớn những người mới gia nhập vào thị trường lao động hằng năm.
Đồng thời, sử dụng hợp lý nguồn lực lao động tại địa phương, nhằm góp phần tạo việc làm và gia tăng thu nhập cho người dân. Thứ ba, các DNNVV góp phần vào việc tạo lập sự phát triển bền vững thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, miền. Thực tế, các doanh nghiệp lớn thường tập trung nhiều ở các đô thị, khu công nghiệp lớn, và điều này đã xảy ra sự mất cân bằng về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng, miền. Do đó, phát triển DNNVV có ý nghĩa to lớn trong việc tạo lập sự cân đối về trình độ phát triển giữa các vùng, miền đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững.
Sự phát triển của các DNNVV ở nông thôn sẽ thu hút được người lao động thiếu hoặc không có việc làm và có thể lôi kéo số lượng lớn 10 lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn tham gia vào sản xuất - kinh doanh, rút dần lao động từ nông nghiệp vào làm công nghiệp hoặc dịch vụ. Thứ tư, sự chú trọng cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh giúp tạo môi trường thuận lợi cho phát triển DNNVV, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh. Thứ năm, các DNNVV cung cấp ra thị trường khối lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phong phú và đa dạng về mẫu mã, chủng loại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội. DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong tổng số doanh nghiệp cả nước, tham gia tích cực trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực sản xuất hàng hoá, dịch vụ cung cấp ra thị trường phong phú về chủng loại, mẫu mã.
đáp ứng nhu cầu của xã hội. Thứ sáu, DNNVV góp phần tạo lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh hiệu quả và đa dạng hoá nguồn hàng xuất khẩu. Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, số lượng các DNNVV được thành lập trong các lĩnh vực, ngành hàng ngày càng nhiều là động lực thúc đẩy các DNNVV phải liên tục thay đổi, cải tiến kỹ thuật, đa dạng chủng loại, mẫu mã nhằm cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước cũng như hàng hoá của doanh nghiệp nước ngoài Thứ bảy, góp phần tích cực đối với quá trình huy động vốn đầu tư trong xã hội, nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực của mỗi địa phương. DNNVV là hình thức đầu tư thích hợp đối với những chủ thể có nguồn vốn hạn hẹp muốn tham gia kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động, mô hình DNNVV có cơ hội vay vốn từ bạn bè, người thân. Do yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều, nên DNNVV có khả năng huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Thứ tám, phát triển DNNVV là để tạo ra các doanh nghiệp lớn. Với những doanh nghiệp thành công, quy mô của các doanh nghiệp sẽ được mở rộng và có thể trở thành các doanh nghiệp lớn.
DNNVV bước đầu có thể tham gia vào quá trình xây dựng mối quan hệ với các doanh nghiệp lớn. DNNVV cũng là những nơi cung cấp nguồn vật tư, nguyên liệu, linh kiện phục vụ sản xuất của các doanh nghiệp lớn. 11 DNNVV có thể là nơi huấn luyện, cung cấp nguồn lao động cho doanh nghiệp lớn, vì họ có thời gian rèn luyện, học tập ở môi trường doanh nghiệp nhỏ.2 Khái quát về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo luật các TCTD số 32/2024/QH15 định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay”.[13] Như vậy, cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc ngân hàng cấp cho khách hàng DNNVV một khoản tiền vốn và được khách hàng sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định và có hoàn trả đầy đủ gốc và lãi theo thoả thuận.2 Phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Các hình thức thường thấy trong hoạt động cho vay của ngân hàng đối với khách hàng DNNVV bao gồm: - Căn cứ vào hình thức vay vốn: +Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay khá phổ biến của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có nhu cầu để ngân hàng cấp hạn mức thấu chi. Theo từng kỳ hạn vay trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi.
Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, Ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả. +Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. +Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi.