Chương 1: Lý luận chung về phát triển cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Vĩnh Phúc II. Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Vĩnh Phúc II. 7 Chƣơng I LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Vì vậy, Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Hiện nay trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất về DNNVV.
Các quốc gia trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu thức phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng để định nghĩa DNNVV. Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNNVV như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Tiêu chí định lượng thường gồm các chỉ tiêu về số lao động, tổng giá trị tài sản, doanh thu hoặc lợi nhuận. Mặc dù vậy tiêu thức xác định DNNVV không giống nhau ở các quốc gia khác nhau.
Ngay tại mỗi quốc gia thì các tiêu thức để xác định DNNVV cũng có thể thay đổi tùy theo trình độ phát triển kinh tế của từng thời kỳ và các ngành nghề khác nhau. Theo phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), DNNVV được phân thành ba loại: DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Các tiêu chí để phân loại DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của DN. Ngoài ra còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNNVV (Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank Qui mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 < $100.000 Nhỏ <50 < $3 triệu < $3 triệu Vừa <300 < $15 triệu < $15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < $10.000 Vừa < $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) (Nguồn: Tổng hợp từ World Bank) Ngoài ra, mỗi quốc gia có nền kinh tế khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau.
Chẳng hạn tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, DNNVV là những DN có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu euro, ở Mỹ thì DNNVV là những DN có số lượng người lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động SX và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới SX (dao động tới mức tối đa là 35,5 triệu đô la). Các DNNVV tại HongKong được phân loại theo ngành SX và số lượng nhân viên. Theo đó, các DNNVV trong các ngành SX có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi SX có số nhân viên dưới 50 người. Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại HongKong còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, năng lực tín dụng.
Tại Thái Lan, việc phân loại các DN được đưa ra một cách chi tiết và cụ thể hơn với sự tách biệt rõ ràng giữa các DN vừa và DN nhỏ. Các thông số quan trọng được sử dụng là số 9 lượng nhân công, tài sản cố định và ngành kinh doanh. Theo đó, các DN nhỏ thuộc ngành SX có số lượng công nhân dưới 50 người, tài sản dưới 50 triệu bạt, các DN vừa thì có số lượng công nhân từ 51-200 người và tài sản từ 50- 200 triệu bạt; đối với lĩnh vực bán buôn thì DN nhỏ có số lượng công nhân dưới 25 người, tài sản dưới 50 triệu bạt, DN vừa có số lượng công nhân từ 26- 50 người và tài sản từ 50- 200 triệu bạt. Ở Việt Nam tiêu chí xác định DNNVV được căn cứ theo Điều 6 - Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018: Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP Quy mô Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lao Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Tổng nguồn động tham tham gia vốn doanh tham gia vốn doanh vốn doanh gia bảo Khu vực bảo hiểm nghiệp/ Tổng bảo hiểm xã nghiệp/ Tổng nghiệp/ Tổng hiểm xã xã hội bình doanh thu hội bình doanh thu doanh thu hội bình quân năm doanh nghiệp quân năm doanh nghiệp doanh nghiệp quân năm I.
Nông nghiệp, Tổng nguồn vốn Tổng nguồn vốn Tổng nguồn vốn lâm nghiệp, thủy không quá 3 tỷ / không quá 20 tỷ không quá 100 10 người trở 100 người 200 người sản, Công Tổng doanh thu / Tổng doanh tỷ / Tổng doanh xuống trở xuống trở xuống nghiệp và xây năm không quá thu năm không thu năm không dựng 3 tỷ quá 50 tỷ quá 200 tỷ Tổng nguồn vốn Tổng nguồn vốn Tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ / không quá 50 tỷ không quá 100 II. Thương mại 10 người trở 50 người trở 100 người Tổng doanh thu / Tổng doanh tỷ / Tổng doanh và dịch vụ xuống xuống trở xuống năm không quá thu năm không thu năm không 10 tỷ quá 100 tỷ quá 300 tỷ (Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 39/2018/NĐ-CP) Như vậy, DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động hay doanh thu. Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia thì việc áp dụng các tiêu chỉ để xác định DNNVV có khác nhau. Tại Việt Nam, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Nhà nước hoạt động trên các lĩnh vực do Nhà nước quy định có quy mô nhỏ, nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng và không quá 300 lao động tùy theo từng ngành nghề hoạt động.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm đại đa số các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế. Tại hầu hết các nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Pháp và Hoa Kỳ DNNVV chiếm trên 99%. Tại Malaysia, số liệu thống kê do Cục Thống kê Malaysia (DOSM) công bố, tỷ lệ DNNVV chiếm 97,2%. Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khu vực DNNVV hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp tới 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động.
Hiện nay,Việt Nam có khoảng 1,7 triệu doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Dự kiến đến năm 2030, con số này tăng lên khoảng 2,4 triệu doanh nghiệp. Số lượng DNNVV chiếm tỷ lệ đến 96% trong tổng số doanh nghiệp được thành lập trong cả nước. - Quy mô nhỏ Hiệu quả kinh tế theo qui mô làm cho doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất và kinh doanh dễ dàng hơn so với các đối thủ, nhờ đó khả năng cạnh tranh trên thương trường thông qua chính sách giá là một ưu thế.
Tuy nhiên, các DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về nguồn vốn, số lượng lao động, có mô hình quản lý đơn giản, chi phí quản lý, chi phí đào tạo không lớn và luôn trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc hay thực hiện các dự án của doanh nghiệp. Mặc dù với quy mô nhỏ và mức độ đầu tư không lớn, tính linh hoạt cao rất phù hợp cho phát triển dân doanh. Vì vậy, các DNNVV không thể cạnh tranh dựa trên chi phí, mà cần tập trung vào chiến lược khác biệt và khai thác chênh lệch giá thông qua giảm chi phí vận chuyển và tạo sự thuận lợi trong bán hàng hơn là cạnh tranh trực diện với các doanh nghiệp lớn. 11 - Tính linh hoạt cao Nhiều nhà kinh tế học cho rằng “nhỏ là tốt”.
Khẳng định này xuất phát từ tính linh hoạt trong chuyển đổi sản xuất của các DNNVV. Vì vậy, DNNVV có khả năng đầu tư đa dạng và linh hoạt và đây là lợi thế mà các doanh nghiệp lớn không có được. Điều này được thể hiện ở việc DNNVV có nguồn vốn thấp do đó dễ chuyển đổi loại hình kinh doanh, phương án đầu tư, sử dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị, có thể dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị với chi phí không quá lớn, kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại. Nhờ tính linh hoạt trong kinh doanh mà các DNNVV dễ lấp các khoảng trống của thị trường, có khả năng chống đỡ được những cú sốc của khủng hoảng kinh tế.
Mặt khác, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các DNNVV thường hướng tới phục vụ trực tiếp đời sống xã hội chủ yếu là đầu tư vào các sản phẩm có sức mua cao, nhạy cảm với biến động của thị trường và khả năng phản ứng lại thị trường linh hoạt, chuyển đổi nhanh mặt hàng phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. - Bộ máy tổ chức hoạt động đơn giản: Do quy mô nhỏ và số lượng lao động không nhiều nên việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý của DNNVV gọn nhẹ, đơn giản. Không có sự phân tầng rõ rệt giữa các phòng ban và tính chuyên môn hoá chưa cao. Tuy nhiên đây cũng là một lợi thế của DNNVV do chi phí cho hoạt động tổ chức, quản lý tương đối thấp, thời gian đưa ra quyết định và truyền đạt ý tưởng từ lãnh đạo tới công nhân viên nhanh chóng và hiệu quả, không phải qua nhiều khâu trung gian.
Tuy nhiên đa số các DNNVV là doanh nghiệp cá nhân hay gia đình, nên việc điều hành chủ yếu từ các thành viên gia đình nên sẽ không có khả năng thu hút những nhà quản lý giỏi nếu không thể thoát ra khỏi kiểu điều hành gia đình. Các nhà điều hành thì đều thiếu kiến thức quản lý và những kỹ năng cần 12 thiết để quản lý doanh nghiệp có qui mô. Nên những DNNVV khi phát triển lớn hơn thì việc chuyển sang công ty cổ phần đại chúng và cần có chính sách thu hút các nhà quản lý chuyên nghiệp là cần thiết.