Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và huy động vốn của ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An Chương 4: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho đến hiện nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại. Kết quả nghiên cứu của các công trình này giúp cho tác giả hiểu thêm về hoạt động huy động vốn, cũng như thu hoạch được nhiều kiến thức mới, từ đó có thể kế thừa và vận dụng vào việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu.
Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Trong các công trình nghiên cứu đã được công bố trước đây liên quan đến vấn đề huy động vốn, cơ bản nhấn mạnh vai trò của việc huy động vốn đối với ngân hàng. Nhưng trong nghiên cứu của Bhagavatula và cộng sự tiếp cận vấn đề từ góc độ các doanh nghiệp quy mô nhỏ ở nông thôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Trong nghiên cứu này đã điều tra về việc vốn xã hội và nhân lực của các doanh nhân (trong trường hợp này là thợ dệt bậc thầy trong ngành dệt thủ công) ảnh hưởng như thế nào đến khả năng nhận ra cơ hội và huy động nguồn lực của họ. Nghiên cứu cũng chỉ ra tầm quan trọng của vốn huy động từ hai phía là doanh nghiệp quy mô nhỏ và tổ chức tín dụng trong từng tình huống.
Khi nghiên cứu về vốn huy động của các ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ ở Ireland, Olamilekan (2018) đã cho thấy vai trò và sự thống trị của các ngân hàng lớn, các vấn đề liên quan đến Brexit cũng như các quy định là những trở ngại đối với hoạt động của DN cũng như ngân hàng. Do quy mô của phân khúc SME, hầu hết các ngân hàng có các cơ cấu tổ chức khác nhau 5 để phục vụ thị trường. Các hoạt động như phê duyệt khoản vay, quản lý rủi ro và chức năng thu hồi khoản vay luôn được tập trung trong mọi trường hợp. Việc huy động vốn không hiệu quả khi nguồn vốn huy động không đạt quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân hàng hoặc không đáp ứng được nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh của ngân hàng.
Đây là quan điểm của Hilferding và cộng sự, theo đó, quy mô huy động vốn được đánh giá thông qua chỉ tiêu tổng số dư huy động vốn. Quy mô huy động vốn lớn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao tính thanh khoản và ổn định nguồn vốn. Nghiên cứu cũng cho thấy trong tổng nguồn vốn của một ngân hàng thì quy mô vốn huy động là bộ phận chiếm tỷ trọng cao nhất nên có vai trò quan trọng nhất. Quy mô vốn huy động của ngân hàng thương mại được đánh giá bằng cách so sánh tổng khối lượng vốn huy động của ngân hàng thương mại qua các năm tại các thời điểm nhất định, thông thường các ngân hàng thương mại có thể so sánh để đánh giá hoạt động huy động vốn hàng tháng vào ngày cuối cùng của tháng trong năm, hoặc hàng quý trong năm, hoặc giữa các năm, hoặc cuối năm (Hilferding, 2019).
Trên cơ sở dữ liệu về khủng hoảng tài chính châu Âu từ ngày 31 tháng 7 năm 2017, có 18 quốc gia châu Âu vẫn chưa đưa hệ thống kinh tế của họ trở lại bình thường. Natalia Kostitcyna cho rằng, mặc dù quản lý khủng hoảng được thực hiện ở rất ít quốc gia, các cuộc khủng hoảng vẫn đang tồn tại. Một tác nhân phổ biến của các cuộc khủng hoảng kinh tế chính là tăng trưởng tín dụng quá mức. Trong những điều kiện kinh tế nhất định, các trung gian tài chính bắt đầu mất đi vị thế cùng với các tiêu chuẩn cho vay của họ, dẫn đến việc họ phải mở rộng hoạt động cho vay, dẫn đến một trong hai kết quả kinh tế chính: tăng trưởng hoặc suy thoái (Kostitcyna, 2019).
Trong 16 năm hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, tuy nguồn vốn huy động về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu vay vốn của hộ nghèo 6 nhưng các đối tượng chính sách khác vẫn còn những hạn chế nhất định. Nghiên cứu này, Hoang Minh Hien và cộng sự đã đánh giá những khó khăn còn tồn tại trong huy động vốn ở NHCSXH. Kết quả nghiên cứu là khảo sát tình hình huy động vốn tại 8 tỉnh, thành của NHCSXH trên khắp Việt Nam. Rút ra vấn đề mấu chốt là cơ chế tạo nguồn vốn chưa ổn định và lâu dài; cơ cấu vốn không hợp lý; khoảng cách giữa nhu cầu vốn chương trình an sinh xã hội được Nhà nước giao cho NHCSXH và vốn thực tế bố trí trong kế hoạch phân bổ chưa phù hợp, … (Hoang Minh Hien và cộng sự, 2019).
Tổng quan nghiên cứu trong nước Nguồn huy động vốn có vai trò rất lớn trong hoạt động của Ngân hàng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Do đó, theo Nguyễn Hồng Yến và cộng sự việc mở rộng các sản phẩm tiền gửi tới các tổ chức kinh tế cũng như các tầng lớp dân cư là vấn đề hàng đầu của Ngân hàng. Thông qua nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất 07 giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của các NHTM. Trong đó, giải pháp tăng cường cơ chế điều hành huy động vốn và KD vốn là giải pháp cần được thực hiện ngay.
Theo đó các NHTM cần xây dựng chính sách huy động nguồn vốn đúng với cơ chế chính sách của Nhà nước, phù hợp diễn biến thị trường, nhu cầu KH và định hướng chiến lược KD của các Ngân hàng. Bên cạnh đó, thực hiện cơ chế điều hành lãi suất theo hướng linh hoạt, tạo quyền tự chủ cho các Chi nhánh của Ngân hàng. Nghiên cứu thị trường nguồn huy động vốn để đưa ra chính sách lãi suất huy động mềm dẻo, linh hoạt hấp dẫn khách hàng, phù hợp với diễn biến lãi suất thị trường trong từng thời kỳ (Nguyễn Hồng Yến và cộng sự, 2017). Với vai trò là tiền đề để ngân hàng có thể triển khai mở rộng các hoạt động kinh doanh, nguồn vốn huy động từ khách hàng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng tín dụng của mỗi ngân hàng, tuy nhiên có những giai đoạn, tăng trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng có sự lệch pha so với tăng 7 trưởng tín dụng.
Để giải quyết tốn tại này, Nguyễn Văn Thọ và cộng sự đã chỉ ra một số giải pháp như xây dựng chính sách huy động nguồn vốn đúng với cơ chế chính sách của Nhà nước, phù hợp diễn biến thị trường, nhu cầu khách hàng và định hướng chiến lược kinh doanh của các ngân hàng, NHTM cần nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm huy động vốn đặc trưng cho từng ngành. thực hiện nghiên cứu thị trường, phân đoạn khách hàng đưa ra các sản phẩm huy động vốn phù hợp với các đối tượng khách hàng gửi tiền, đặc điểm các vùng, miền, xây dựng chính sách ưu đãi về lãi suất, khuyến mãi phù hợp với từng phân đoạn khách hàng; đa dạng hóa và hoàn thiện hệ thống danh mục sản phẩm huy động vốn, gia tăng tiện ích cho sản phẩm huy động vốn, bán chéo sản phẩm., cần thực hiện rà soát lại quy trình, thủ tục, chứng từ giao dịch, chương trình liên quan trong giao dịch tiền gửi tiết kiệm. Hoàn thiện quy trình giao dịch tiền gửi tiết kiệm; chương trình cảnh báo; giám sát trên hệ thống về các giao dịch tiền gửi, huy động vốn (Nguyễn Văn Thọ và cộng sự, 2019). Vốn của các ngân hàng thương mại phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong sản xuất - kinh doanh được gửi vào ngân hàng với những mục đích khác nhau.
Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu tư có nhu cầu về vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vốn và các hoạt động về huy động vốn quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM. vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM. Trong nghiên cứu, tác giả Nguyễn Ngọc Anh đã bước đầu nhận định thực trạng việc huy động vốn của một số ngân hàng tại Việt Nam trong thời gian gần đây và nêu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn của các NHTM trong bối cảnh hiện nay (Nguyễn Ngọc Anh, 2021). Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nên từ đầu năm 2020 đến nay, hoạt động huy động và cho vay vốn của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam diễn biến 8 trái chiều.
Trong khi tiền gửi của dân cư bắt đầu tăng chậm lại kể từ tháng 6/2020 thì tiền gửi của DN lại tăng rất mạnh trong những tháng trở lại đây. Bài viết phân tích của Dương Văn Bôn và cộng sự đã chỉ ra các điểm cần lưu ý về hoạt động huy động vốn và cho vay của NHTM trong bối cảnh này (Dương Văn Bôn, 2021). Huy động vốn là hoạt động quan trọng, mang tính chất sống còn của các NHTM. Hơn 80% nguồn vốn kinh doanh của các NHTM được hình thành từ nguồn vốn huy động, trong đó chủ yếu là vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng.
Vì thế, đối với NHTM, qui mô - hiệu quả - an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng phần lớn phụ thuộc vào qui mô - chi phí - và tính ổn định của nguồn vốn huy động, nguồn vốn tiền gửi. Tuy nhiên, theo Nguyễn Quốc Huy, do có sự tương đồng trong tính năng của các sản phẩm huy động vốn cũng như sự cạnh tranh gay gắt tất yếu giữa các NHTM, xảy ra tình trạng khách hàng dễ dàng dịch chuyển số dư tiền gửi của mình từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, dẫn đến nguồn vốn tiền gửi của các ngân hàng thiếu bền vững về mặt qui mô, chi phí, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trong hệ thống (Nguyễn Quốc Huy, 2022).