Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại. Tổng quan về Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khái nệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ va vừa có thé được hiểu là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thé chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có SỐ lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có sỐ lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước đều có những tiêu chí riêng của mình dé xác định DNNVV. Tại Việt Nam quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ, và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa.
Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Doanh nghiệp nhỏ và vừa có tính năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Đây là một trong những đặc điểm ưu việt của DNNVV. Các DNNVV chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội.
Vì thế Doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn phải hướng đến thị hiếu của người tiêu dùng. Mặt khác, với số vốn ít, vòng quay vốn ngắn, các DNNVV không có phương án sản xuất kinh doanh lâu dài như các doanh nghiệp lớn mà thường dé dang thay đổi quy mô, thay đổi hướng kinh doanh, sản pham, dịch vụ theo hướng thay đổi của thị trường. Vì thế, so với các doanh nghiệp lớn, Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không gặp nhiều tôn thất khi thi trường biến động. - Quy mô hoạt động nhỏ bé, sức cạnh tranh thấp.
Phần lớn các DNNVV đều có quy mô nhỏ. Điều này dẫn tới sự hạn hẹp về nguồn vốn, kéo theo những khó khăn về mặt sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ và năng lực quản lý gặp nhiều hạn chế. Trong đó, tình trạng thiếu von kinh doanh là đặc điểm nỗi bật của loại hình doanh nghiệp này. Từ đó kéo theo nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tái sản xuất của các DNNVV, gây ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, khiến cho sức cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ yếu, không mở rộng được thị trường.
Bên cạnh đó, việc tiếp cận vốn vay ngân hàng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừacũng chưa được thuận lợi, khiến các DN này không theo kip tốc độ cạnh tranh của thị trường. - Trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV còn nhiều hạn chế. Trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý DNNVV là một van dé đang rất được quan tâm và cần chú trọng cải thiện. Với các DNNVV ngoài quốc doanh, DNNVV lại chủ yếu được hình thành từ hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã, bạn bè hay gia đình, trong số đó rất nhiều chủ DN không qua các trường lớp đào tạo quản lý chính quy, khiến tầm nhìn chiến lược phát triển lâu dài cho DN bị hạn chế.
Các DNNVV của Nhà nước cũng còn rất nhiều nhà quản lý yếu kém về trình độ điều hành, nên chưa đáp ứng được nhu cầu kinh tế của thị trường, không đủ sức dé DN đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. - Phần lớn đội ngũ lao động của các DNNVV còn yếu kém. Khác với các DN, các tập đoàn kinh tế lớn, đội ngũ lao động của DNNVV có trình độ khá đa dạng, từ lao động thủ công, lao động có tay nghề đến lao động có trình độ cao đều có cơ hội làm việc tại các DNNVV, trong đó phần lớn là lao động với trình độ thấp. Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng lao động tại các DNNVV thường không hiệu quả.
Ngoài các ngành mới nổi như điện tử, viễn thông,. thì các DNNVV chủ yếu hoạt động trong các ngành nghề quen thuộc như dét may, thủy sản, chế biến lương thực thực phẩm. Khâu sản xuất của các ngành này thường không yêu cầu cao về trình độ lao động mà phần lớn sử dụng lao động tay chân và lao động truyền thống, không qua dao tạo chính quy. Các DNNVV cũng không thu hút được lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao, do môi trường làm việc không hấp dẫn được đội ngũ lao động chuyên nghiệp.
Ban thân các DNNVV lại chưa biết cách khai thác nguồn lực sẵn có, do bộ máy quản lý thiếu kinh nghiệm nên vấn đề tô chức hoạt động còn nhiều bất cập, phân công nghĩa vụ và quyền lợi cho công nhân viên chưa hợp lý, chưa tạo được môi trường cạnh tranh thúc đây công nhân viên phát huy năng lực. Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nho. - DNNVV đóng góp lớn vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân, góp phần giải quyết công ăn việc làm và ôn định kinh tế xã hội. Trên thế giới, các DNNVV chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các DN.
Và ở Việt Nam cũng không ngoại lệ. Ly do khiến số lượng DNNVV chiếm đa số đó là vì việc thành lập DN là khá dé dàng, mặt khác các DNNVV phan nhiều được phát triển từ hình thức kinh tế hộ gia đình, loại hình đa dạng thu hút được nhiều lao động phô thông. Với biên độ về trình độ lao động lớn, từ lao động nhà rỗi ở nông thôn, lao động qua dạy nghề nhiều cấp bậc cho tới một bộ phận lao động trình độ cao, các DNNVV đã góp phần không nhỏ giải quyết van dé công ăn việc làm cho xã hội, giúp thực hiện các chính sách vi mô về việc làm và phát triên kinh tê. 10 - Hoạt động của các DNNVV tạo ra sự cân đối giữa các vùng miền, các ngành kinh tế.
DNNVV có cơ cấu ngành nghề khá da dạng và phong phú, bao gồm cả các lĩnh vực truyền thống lẫn hiện đại, từ các ngành nghề nông, lâm nghiệp, thủy hải sản. cho tới các dịch vụ mới phát triển. Bên cạnh sự phát triển của các DN lớn, các công ty, tập đoàn đa quốc gia tập trung nhiều ở các thành phố, khu đô thị, khu công nghiệp lớn, các DNNVV thường tập trung ở các địa phương với số lượng lớn và được phân bố khá đồng đều. Đặc biệt, tại các vùng miền còn khó khăn, việc phát triển các DNNVV là một trong những ưu tiên hàng đầu đề thúc đây phát triển kinh tế.
Đây cũng là ưu điểm nhằm góp phan vào chính sách phát triển đồng bộ của Nhà nước, giảm bớt khoảng cách kinh tế - xã hội giữa các vùng miễn, cân đồ cơ cấu ngành kinh tế. - DNNVV góp phần khai thác tiềm năng của địa phương, là trụ cột của nền kinh tế địa phương. Các DNNVV năm dan trải tại các địa phương, vì vậy hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như định hướng phát triển của DNNVV thường gắn liền với các đặc điểm kinh tế xã hội cũng như tiềm năng của địa phương. Sản xuất kinh doanh của DNNVV dựa trên nhu cầu của mỗi địa phương, dựa trên những nguồn lực sẵn có, áp theo những chuân mực pháp lý của địa phương đó.
Gắn bó chặt chẽ với kinh tế địa phương, phát triển vững chắc các DNNVV sẽ là hướng đi đúng đắn cho Việt Nam trên bước đường hiện đại hóa công nghiệp hóa đất nước trong thời đại mở cửa và hội nhập. - DNNVV hỗ trợ hiệu quả các khâu sản xuất kinh đoanh cho DN lớn, là nền tang dé hình thành các DN lớn mạnh trong nên kinh tế thị trường. Các DNNVV có thể thực hiện các khâu gia công, đóng gói, vận chuyên, phân phối ra thị trường, nhận thực hiện một phần của các dự án hoặc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, công ty II mạnh hơn. Day là sự phân phối khối lượng công việc một cách tat yeu khách quan, tiết kiệm thời gian, chi phí, tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong nên kinh tế thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho xã hội.
Hoạt động cho vay đối với các Doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM. Hoạt động cho vay của NHTM. Các khái niệm về NHTM. e Khai niệm chung: Ngân hàng thương mại trước hết là một doanh nghiệp , hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp thực thụ.
NHTM có vốn riêng, có chi phí, thu nhập, có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, có thé lãi hoặc lỗ, có thé giàu lên hoặc pha sản, có hạch toán thu chi, có tính đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và luôn tìm mọi cách tối đa hóa lợi nhuận. Điểm khác biệt với DN là NHTM kinh doanh dich vụ tiền tệ, không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhưng NHTM tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối sản pham xã hội băng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các DN, tô chức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phan tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Như vậy, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả gốc & lãi khi đến hạn và sử dụng số tiền gửi đó để cho vay đầu tư thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán. NHTM ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của hoạt động kinh doanh tiền gửi.
Từ chỗ chỉ đơn thuần làm dịch vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ bảo quản tiền gửi cho chủ sở hữu và sau đó là nhận được các khoản thù lao dưới dạng hoa hồng, cho tới nay, NHTM đã trở thành một chủ thê kinh doanh tiền gửi, nghĩa là vừa tiến hành huy động tiền gửi vừa sử dụng 12 các khoản tiền huy động được đó dé làm vốn cho vay, von đầu tư nhăm tối da hóa các khoản lợi nhuận thu được. Ngày nay, NHTM và cơ cấu hoạt động của nó đã và đang chiếm giữ vai trò quan trọng trong thể chế tài chính của mỗi nước, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô không thé thiếu của Nhà nước, hoạt động của NHTM cũng ngày càng đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn ở quy mô, tính toàn cầu, tính hiện đại trong công nghệ Ngân hàng.