CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN BUÔN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động tín dụng bán buôn của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm tín dụng bán buôn Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về TDBB. Trong Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, việc phân loại các hình cấp tín dụng chưa đề cập tới việc phân loại theo TDBB và TDBL. Tại khoản 2, Điều 50, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có nêu: “Tổ chức tín dụng cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn, trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống”, quan điểm này bao hàm cả hai nội dung: TDBB và TDBL. Đối với các nghiên cứu trên thế giới, thuật ngữ liên quan gần nhất với TDBB đó là “ngân hàng bán buôn” (Wholesale banking).
Theo Investopedia, thuật ngữ “ngân hàng bán buôn” đề cập đến các dịch vụ ng n hàng được bán cho các khách hàng lớn, chẳng hạn như ng n hàng khác, các tổ chức tài chính khác, cơ quan chính phủ, tập đoàn lớn và nhà phát triển bất động sản. Các dịch vụ ngân hàng bán buôn bao gồm chuyển đổi tiền tệ, tài trợ vốn lưu động, các giao dịch thương mại lớn, mua bán và sáp nhập, tư vấn và bảo lãnh phát hành, cùng các dịch vụ khác. Dựa trên lối hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, bán buôn là hình thức mua bán hàng hoá thông qua các trung gian, đại lý, trong đó khối lượng giao dịch lớn; ngược lại, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán trực tiếp bán hàng cho các cá nh n là người tiêu dùng cuối cùng với khối lượng giao dịch nhỏ, lẻ. Khi áp dụng quan điểm này trong hoạt động tín dụng, TDBB có thể được hiểu như sau: “TDBB được hiểu là tất cả các khoản cấp tín dụng của NHTM cho khách hàng doanh nghiệp lớn, cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, định chế tài chính phi tín dụng gồm: Công 7 ty Chứng khoán, Quản lý quỹ, bảo hiểm và các chi nhánh, công ty con của các khách hàng này với quy mô giá trị cấp tín dụng lớn”.
Tùy theo quy định cụ thể của từng NHTM mà các khoản cấp tín dụng được xếp vào TDBB. Trong thực tế, những tiêu chí ph n định giữa bán buôn, bán lẻ chỉ là tương đối và không mang tính phổ biến đối với mọi quốc gia, và giữa các ngân hàng, ngoài ra chúng còn bị thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản lý ở từng nơi.2 Đặc điểm của tín dụng bán b ôn TDBB có những đặc điểm sau: Thứ nhất, TDBB hướng đến đối tượng là khách hàng xin cấp các khoản tín dụng lớn chứ không phải nhóm khách hàng xin cấp các khoản tín dụng có quy mô nhỏ là các cá nhân hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Rõ ràng đ y là đặc điểm và là tiêu chí chính để phân biệt TDBL và TDBB. Những khách hàng có quy mô lớn tức là những khách hàng có tổng tài sản hoặc vốn tự có lớn, có doanh thu và lợi nhuận lớn qua các năm và có giao dịch với ngân hàng các khoản tiền lớn cả về khía cạnh tiền gửi, tiền vay và các khoản giao dịch thanh toán.
Thứ hai, các khoản TDBB luôn có giá trị lớn. Thông thường những khoản tín dụng vượt quá thẩm quyền ra quyết định tín dụng của giám đốc chi nhánh (đối với ngân hàng vừa và nhỏ) hoặc vượt quá thẩm quyền ra quyết định của trưởng phòng tín dụng (đối với ngân hàng lớn) được coi là khoản tín dụng có giá trị lớn. Tuy thật khó để phân biệt rõ đ u là giá trị lớn, đ u là giá trị nhỏ của giá trị tín dụng, nhưng có thể phân biệt qua phương pháp thống kê những khách hàng vay vốn lớn tại một ngân hàng, hoặc có thể phân biệt giá trị tín dụng lớn hay nhỏ qua phân cấp ra quyết định tín dụng. Một số NHTM quy định nếu khoản tín dụng chiếm tỷ lệ từ 5% so với vốn tự có trở lên thì khoản tín dụng đó được coi là bán buôn, một số ng n hàng khác thì đưa ra giới hạn con số cụ thể.
8 Thứ ba, lãi suất cấp tín dụng (lãi suất cho vay) thường được đưa ra theo cơ chế ưu đãi, thấp hơn lãi suất cấp TDBL. Khách hàng lớn có tiềm năng yêu cầu các khoản tín dụng có quy mô lớn do đó sẽ mang tới doanh thu và lợi nhuận lớn cho ng n hàng, trong khi đó chi phí quản lý khách hàng nhỏ. Chính vì vậy các TM thường đưa ra chính sách lãi suất ưu đãi đi kèm với nhiều dịch vụ thanh toán khác hỗ trợ để thu hút KHBB. Thứ tư, số lượng khách hàng của TDBB khá ít.
So với số lượng khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, KHBB là đối tượng khách hàng thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ về mặt số lượng nhưng chiếm lại tỷ trọng tương đối lớn về doanh số giao dịch. Thông thường đối với một NHTM vừa kinh doanh bán buôn và bán lẻ thì lượng KHBB chỉ chiếm dưới 30% tổng số khách hàng của ng n hàng đó. Thứ năm, TDBB có quy trình cấp tín dụng phức tạp và mất nhiều thời gian. TDBB có thể mang lại doanh thu rất lớn cho ng n hàng, nhưng ngược lại một khi các khoản cấp TDBB gặp rủi ro sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Vì vậy, đòi hỏi ngân hàng xây dựng quy trình thẩm định và giám sát tín dụng chặt chẽ, đảm bảo sự an toàn cũng như thận trọng khi ra quyết định cấp tín dụng. Thứ sáu, mức độ cạnh tranh cấp TDBB giữa các NHTM rất khốc liệt. Do đối tượng của TDBB là các doanh nghiệp và tổ chức lớn mà những tổ chức này có số lượng rất hạn chế. Thị trường TDBB đã được các NHTM khai thác trong thời gian dài.
Hiện nay, các NHTM không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ KHBB bên cạnh cung ứng một mức lãi suất hoặc chi phí giao dịch canh tranh, từ đó các NHTM mới có thể “giữ chân” được các khách hàng truyền thống của mình.3 Phân loại tín dụng bán b ôn 1.1 Phân loại theo đối tượng khách hàng 9 Khi phân loại theo đối tượng khách hàng, mỗi NHTM lại đưa ra các tiêu chí khác nhau, trong bài luận văn này tác giả sẽ tiến hành phân loại theo quy định của ng n hàng Vietcombank như sau: a. Nhóm khách hàng doanh nghiệp + Doanh thu thuần trên báo cáo tài chính trong 2 năm liên tiếp gần nhất ≥ 100 tỷ VND; và/hoặc Doanh thu thuần năm gần nhất ≥ 150 tỷ đồng. + Tiền gửi bình qu n năm tại Vietcombank ≥ 10 tỷ V Đ; và/hoặc doanh số thanh toán xuất nhập khẩu năm gần nhất qua Vietcombank ≥ 4 triệu USD. + Chi nhánh, công ty góp vốn trên 50% của các khách hàng được định danh là KHBB.
+ Các doanh nghiệp thành lập để để triển khai dự án đầu tư có tổng mức đầu tư dự án ≥ 150 tỷ VND. Nhóm các cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội + Cơ quan nhà nước thuộc Khối trung ương hoặc khối địa phương thuộc cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; + Tổ chức Chính trị thuộc khối trung ương hoặc khối địa phương thuộc cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; + Tổ chức Chính trị - Xã hội thuộc khối trung ương hoặc khối địa phương thuộc cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; + Trường Công lập giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; + Bệnh viện công lập. Nhóm các khách hàng định chế tài chính phi Tổ chức tín dụng gồm: Công ty Chứng khoán, Quản lý quỹ, bảo hiểm và các chi nhánh, công ty con của các khách hàng này Việc định danh khách hàng được Vietcombank xác định vào đầu mỗi năm và thường không thay đổi trong năm (trừ trường hợp được duyệt).2 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng a. Cho vay Cho vay là việc các NHTM cho khách hàng của mình mượn quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định với cam kết sẽ hoàn trả đúng hạn bao gồm cả gốc và lãi như được ghi trong hợp đồng tín dụng.
Dựa vào thời hạn cho vay có thể chia thành hai loại: thứ nhất, cho vay ngắn hạn, là loại hình cho vay phục vụ mục đích đầu tư vào tài sản lưu động; thứ hai, cho vay trung dài hạn, là loại hình cho vay phục vụ mục đích đầu tư vào tài sản cố định hoặc để thực hiện các dự án đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong các hình thức cho vay dành cho KHBB thì cho vay theo dự án và cho vay đồng tài trợ là hai hình thức cho vay nổi bật và được sử dụng nhiều nhất. + Cho vay dự án: Đ y là loại hình cho vay nhằm giúp các tổ chức đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ quá trình sản xuất. Các dự án đầu tư này có thể do hà nước hoặc các doanh nghiệp chủ trì nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, dịch vụ, đời sống… một khi dự án cho thấy được hiệu quả kinh tế, đạt tính khả thi thì ngân hàng sẽ cho vay phần vốn còn thiếu, từ đó giúp chủ đầu tư có đủ vốn để hoàn thành dự án.
Rõ ràng về bản chất, tài trợ dự án cũng là một hoạt động cho vay thuộc phạm vi nghiệp vụ NHTM truyền thống. + Cho vay đồng tài trợ: hay còn gọi là cho vay hợp vốn, là hình thức cho vay trong đó một nhóm các tổ chức tài chính mà ở đ y cụ thể là một nhóm các NHTM cùng liên kết lại để tạo lập nguồn vốn đủ lớn để đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng. Các tổ chức tài chính tham gia vào hoạt động cho vay hợp vốn có thể là các NHTM, các công ty bảo hiểm, ngân hàng đầu tư và các tổ chức tín dụng khác. Cho vay hợp vốn thông qua hai phương thức sau: 11 - Cho vay hợp vốn trực tiếp: Trong phương thức này mỗi ngân hàng cho vay hợp vốn có một hợp đồng cho vay riêng đối với khoản tiền mà họ cấp cho khách hàng.
- Cho vay hợp vốn gián tiếp: nhiều ngân hàng cùng tham gia cho một khách hàng vay nhưng chỉ thông qua một hợp đồng vay được ký kết với người đi vay.