MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Ở Việt Nam, năm 1945 diện tích rừng có tới 14,4 triệu ha, độ che phủ của rừng chiếm 43%, năm 1995 chỉ còn 9,3ha chiếm 28,2%. Trung bình từ năm 1945-1995 mỗi năm nước ta mất đi hơn 100. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT tính đến ngày 31/12/2014 diện tích rừng nước ta đã tăng lên gần 18,84 triệu ha, độ che phủ của rừng chiếm khoảng 40,8%.
Tuy diện tích và độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể nhưng chất lượng rừng rất thấp. Theo dự báo của ngành giấy đến năm 2015 nhu cầu sử dụng giấy trong nước là 1.000tấn/năm và đến năm 2020 là 3.000 tấn/năm, mục tiêu xuất khẩu bột giấy đến năm 2015 là 760. Như vậy, nhu cầu về gỗ nguyên liệu sử dụng trong nước cũng như cho sản xuất các mặt hàng xuất khẩu từ nay đến năm 2020 là rất lớn, để góp phần vào phát triển chung của nền kinh tế quốc dân thì công tác phát triển thị trường đầu ra cho rừng trồng sản xuất là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách. Chính vì vậy, mỗi địa phương cần phải rà soát, đánh giá thực trạng rừng trồng sản xuất tại địa phương của mình làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển nhằm nâng cao năng suất và chất lượng gỗ rừng trồng, từ đó phát triển thị trường sản phẩm đầu ra theo hướng bền vững.
Nhằm gia tăng tỷ lệ che phủ của rừng toàn quốc đạt 45%, chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của chính phủ đang được thực hiện rất tích cực. Đồng thời việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng cũng được chú trọng nhằm nâng cao sản lượng rừng. Ngày nay, Bạch đàn và Keo được coi như là những loài cây có triển vọng trong các chương trình trồng rừng, cho dù việc trồng Bạch đàn đã gây ra một số tranh cãi vệ việc gây e 2 thoái hoá đất. Hiện tại, diện tích rừng trồng Keo và Bạch đàn đạt khoảng 576.000ha và chiếm khoảng 46% tổng diện tích rừng trồng tại Việt Nam.
Rừng sản xuất là rừng đa mục tiêu, trồng rừng sản xuất nhằm tăng thu nhập cho người làm nghề rừng và góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái. Phát triển rừng sản xuất phải gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm lâm sản để tạo được nghề rừng ổn định và phát triển bền vững. Đồng Hỷ là một huyện của tỉnh Thái Nguyên, nơi có nhiều diện tích rừng trồng sản xuất được phát triển trong thời gian qua. Tại đây các mô hình trồng rừng sản xuất cũng đã hình thành và khá đa dạng, trong đó đặc biệt chú trọng đến các mô hình dự án 661, xây dựng với nhiều quan điểm mới, thu hút được nhiều đối tượng tham gia vào công tác phát triển rừng góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội của huyện.
Tuy nhiên, việc triển khai các hoạt động trồng rừng sản xuất vẫn còn manh mún, chưa tập trung, nhiều chính sách của nhà nước đưa ra chưa khuyến khích được người dân làm rừng, thiếu các hỗ trợ cần thiết (thiếu vốn, kỹ thuật…) đã làm cản trở việc phát triển hoạt động trồng rừng sản xuất của tỉnh. Trong khi đó, hoạt động sản xuất của một số nhà máy chế biến lâm sản trong tỉnh có lúc thiếu nguyên liệu trầm trọng, phải tìm nguồn cung từ các tỉnh lân cận hoặc nhập khẩu đã làm ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị. Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phát triển thị trường sản phẩm đầu ra cho rừng trồng sản xuất theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên” là hết sức cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Đánh giá được thực trạng tình hình rừng trồng sản xuất trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở xây dựng kế hoạch nâng cao và tìm ra giải pháp phát triển rừng trồng trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Phát hiện được điểm mạnh và điểm yếu về hiện trạng rừng trồng sản xuất của huyện Đồng Hỷ tỉnh thái nguyên - Xác định một số giải pháp quan trọng để phát triển thị trường sản phẩm đầu ra cho rừng trồng sản xuất của huyện Đồng Hỷ theo hướng phát triển bền vững, đảm bảo cho lợi ích cho các hộ dân trồng rừng và cho cộng đồng. Ý nghĩa khoa học và thực tế 1. Ý nghĩa khoa học - Đề tài góp phần vào việc tìm hiểu thị trường sản phẩm đầu ra của rừng trồng sản xuất huyện Đồng Hỷ nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung.
Từ đó đề xuất các giải pháp để phát triển thị trường đầu ra theo hướng bền vững, góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ. - Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu để làm quen với thực tế. - Nâng cao kiến thức và tích lũy được kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo và là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu liên quan.
Ý nghĩa thực tế - Là cơ sở để UBND huyện Đồng Hỷ, UBND thị trấn Sông Cầu, UBND xã Khe Mo, Văn Hán và các hộ gia đình thuộc 3 xã, thị trấn trên tham khảo từ đó góp phần giúp cho công tác phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện được nâng cao. e 4 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm về phát triển bền vững Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa.
riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.Khái niệm về thị trường Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ. Thực chất, Thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất được đánh giá theo nhiều yếu tố trong đó hiệu quả về kinh tế là chủ yếu. Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài.
Đồng thời phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân. Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Patrick B. Durst (2004) [15], để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn phải nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường. Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất nên tại các e 5 nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật.
nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “Thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng, chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sẽ phải sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá. Dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua Liu Jinlong (2014) [13] đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyết khích tư nhân phát triển trồng rừng như: - Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá. - Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước.
- Giảm thuế đánh vào các lâm sản. - Đầu tư tái chính cho tư nhân trồng rừng. - Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân. Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý chung về vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người dân.
Có thể nói đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng mà còn gợi ý những định hướng quan trọng cho phát triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức khuyến khích trồng rừng. Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahanop (2004) ở Thailand, Ashadi và Nina Mindawati (2004) [12] ở Indonesia. Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là: - Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất.
e 6 - Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng. - Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân. Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần tham gia trồng rừng sản xuất, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng. Vì vậy, quan điểm chung để phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức kinh doanh sản xuất rừng trồng.
Đánh giá chung: Điểm qua những vấn đề nghiên cứu trên thế giới có liên quan cho thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu khá sâu và công phu. Tuy các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới đã giải quyết khá đầy đủ các vấn đề có liên quan, nhưng hầu hết các công trình được nghiên cứu trong những hoàn cảnh sinh thái và các điều kiện kinh tế kỹ thuật hết sức khác nhau nên không thể ứng dụng một cách máy móc vào điều kiện cụ thể của nước ta nói chung cũng như ở Đồng Hỷ nói riêng. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 2.