Chương I : Cơ sở lý luận về hoạt động thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng thƣơng mại nói chung trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 Chương II : Thực trạng hoạt động Thanh toán quốc tế tại Eximbank trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 Chương III : Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Eximbank trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS, TS Nguyễn Việt Dũng, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn và cung cấp nhiều chỉ dẫn khoa học có giá trị, cũng nhƣ thƣờng xuyên động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ để luận văn tốt nghiệp này có thể hoàn thành tốt đẹp. Đồng thời, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Tài chính Ngân hàng, khoa Sau đại học và các thầy cô giáo của trƣờng Đại học Ngoại thƣơng nói chung đã cung cấp cho học viên những kiến thức bổ ích trong suốt hai năm học tập tại trƣờng, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ trong quá trình học tập cũng nhƣ trong thời gian làm luận văn. Trong quá trình làm luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả luôn mong nhận đƣợc ý kiến nhận xét, đóng góp và đánh giá của các thầy cô giáo để kiến thức đƣợc hoàn thiện hơn nữa. Luan van 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI NÓI CHUNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.
Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc trưng thanh toán quốc tế 1. Khái niệm thanh toán quốc tế Ngày nay, đối với mỗi một quốc gia quan hệ kinh tế đối ngoại có vai trò quan trọng hàng đầu và là con đƣờng tất yếu trong phát triển kinh tế. Hoạt động kinh tế đối ngoại là hoạt động trao đổi hàng hoá và tiền tệ giữa các chủ thể của các quốc gia khác nhau.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thƣơng mại tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh tế, các hãng, các cá nhân của các nƣớc khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng hình thức chuyển tiền hoặc các hình thức bù trừ trên tài khoản tại các NH. TTQT hiểu theo nghĩa rộng bao gồm thanh toán các hiệp định thƣơng mại, các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nƣớc, các hợp đồng mua bán ngoại thƣơng, các phí dịch vụ (nhƣ phí vận tải, bảo hiểm…) TTQT có thể đƣợc chia thành: Thanh toán mậu dịch: là quan hệ thanh toán có liên quan trực tiếp, phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và dịch vụ thƣơng mại quốc tế. Thanh toán phi mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đếnhàng hoá, không mang tính chất thƣơng mại: quan hệ về ngoại giao (nhƣ chi phí của các cơ quan ngoại giao tại nƣớc sở tại), văn hoá, du lịch (chi phí vận chuyển và đi lại của các đoàn khách, chính phủ, tổ chức cá nhân…) Trong giao dịch ngoại thƣơng, sự trao đổi hàng hoá và tiền tệ giữa các chủ thể thuộc 2 quốc gia khác nhau vƣợt ra ngoài phạm vi một quốc gia nên có sự khác nhau về quy chế mậu dịch, các điều kiện thƣơng mại cũng nhƣ các tập quán thƣơng mại. Vì vậy một cơ chế thanh toán mang tính thống nhất và đảm bảo an toàn lợi ích Luan van 5 cho cả ngƣời mua và ngƣời bán là vô cùng cần thiết.
Trong cơ chế thanh toán này, thông thƣờng có một bên thứ ba độc lập làm trung gian thanh toán. Đó l các tổ chức tài chính trung gian (chủ yếu là các NH) có kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ, uy tín, khả năng tài chính, mạng lƣới đại lý và quan hệ rộng… 1. Đặc trưng của thanh toán quốc tế Thƣơng mại quốc tế và TTQT đã xuất hiện từ rất lâu nhƣng nó chỉ thực sự phát triển kể từ khi chủ nghĩa tƣ bản ra đời và nó từ đó cho đến nay trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế quốc tế ng y c ng đƣợc mở rộng, hoạt động TTQT tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với các hoạt động khác của quan hệ kinh tế quốc tế. Trong quan hệ TTQT giữa các chủ thể của các quốc gia khác nhau trên thế giới, đồng USD không còn là đồng tiền tiêu chuẩn duy nhất.
Việc lựa chọn đồng tiền nào hoàn toàn do sự thoả thuận của bên mua và bên bán, có thể sử dụng đồng nội tệ của bên mua hoặc bên bán, hay cũng có thể lựa chọn một đồng ngoại tệ đối với cả bên mua và bên bán. Việc lựa chọn này phụ thuộc vào uy tín của nền kinh tế, so sánh tƣơng quan vị thế giữa hai bên mua và bên bán, hoặc phụ thuộc vào tập quán thƣơng mại quốc tế. TTQT ít sử dụng tiền mặt, chủ yếu đƣợc thực hiện bằng chuyển khoản giữa các NH liên quan. Bất kỳ một nền kinh tế dù đang trong giai đoạn phát triển thịnh vƣợng cũng luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn nhƣ lạm phát, thâm hụt cán cân TTQT, mất cân bằng cung cầu ngoại tệ, sự bất hợp lý của các chính sách kinh tế vĩ mô hay sự biến động của tỷ giá theo hƣớng bất lợi cho nền kinh tế…Vì quan hệ TTQT là một bộ phận của quan hệ kinh tế nên nó cũng không nằm ngoài sự tác động của các yếu tố bất ổn trên.
Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế 1. Đối với nền kinh tế Trong bất kỳ một giao dịch kinh tế nào, thanh toán là khâu không thể thiếu. Nói một cách đơn giản thì thanh toán là việc ngƣời mua trả tiền cho ngƣời bán để nhận số hàng hoá hoặc dịch vụ từ ngƣời bán. TTQT cũng mang bản chất nhƣ vậy xong phức tạp hơn nhiều, nó liên quan đến chủ thể ở các quốc gia khác nhau, đến Luan van 6 ngoại tệ và những vấn đề pháp lý quy định quan hệ thƣơng mại giữa hai quốc gia…Với xu thế toàn cầu hoá và chuyên môn hoá nhƣ hiện nay thì hoạt động xuất nhập khẩu rất phát triển và kéo theo đó hoạt động TTQT cũng phát triển.
Có thể nói hoạt động TTQT có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế mỗi nƣớc nói riêng. TTQT ra đời từ những quan hệ kinh tế quốc tế và bản thân nó lại thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế. TTQT là khâu kết thúc một giao dịch buôn bán hàng hoá và dịch vụ, là cầu nối giữa ngƣời XK và ngƣời NK thông qua việc chi trả lẫn nhau trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TTQT. Vì vậy, nếu hoạt động TTQT đƣợc thực hiện có hiệu quả nó sẽ rút ngắn thời gian chuyển vốn, thúc đẩy hoạt động ngoại thƣơng phát triển.
Khi hoạt động kinh tế đối ngoại đƣợc coi trọng hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế thì TTQT có vai trò ngày càng quan trọng. TTQT hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại. Do vị trí địa lý nên việc tìm hiểu năng lực tài chính, khả năng thanh toán của ngƣời mua gặp nhiều khó khăn, nếu tổ chức công tác TTQT tốt sẽ giúp cho các nhà kinh doanh XNK hạn chế đƣợc rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại. TTQT là một mắt xích, một cầu nối để các tổ chức kinh tế, các tổ chức thƣơng mại và các quốc gia khác nhau trên thế giới thực hiện đƣợc các hợp đồng kinh doanh thƣơng mại.
TTQT là một công cụ của Nhà nƣớc nhằm hoạch định các chính sách về hoạt động ngoại thƣơng. Hoạt động TTQT của các NHTM có ảnh hƣởng trực tiếp đến lƣợng ngoại tệ dự trữ của một quốc gia và nếu không đƣợc kiểm soát thì quốc gia đó có thể sẽ lâm vào tình trạng thiếu hụt dự trữ ngoại tệ, điều này rất nguy hiểm đối với nền kinh tế. NH trung ƣơng kiểm soát hoạt động TTQT thông qua việc theo dõi và thẩm định các hoạt động TTQT của các NHTM cũng nhƣ ban hành các quy định về hạn mức TTQT của các NHTM và hỗ trợ các NHTM khi cần thiết. Đối với ngân hàng thương mại và doanh nghiệp Đối với ngân hàng thương mại Luan van 7 Việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT có vai trò và vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động của NHTM.
Nó không chỉ là dịch vụ thuần tuý m nó còn đƣợc coi là một trong những hoạt động kinh doanh của NH, nó bổ sung và hỗ trợ cho những mặt hoạt động khác của NH. TTQT là một hoạt động cung cấp dịch vụ nhằm thu phí của NH. Tiền phí thƣờng là một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng giá trị hàng hoá. Ngoài ra hoạt động TTQT còn làm tăng tính thanh khoản của NH.
Trong quá trình thực hiện các phƣơng thức thanh toán cho khách hàng, đối với từng loại khách hàng mà NH sẽ tính một tỷ lệ ký quỹ khác nhau. Đây là một nguồn tiền tƣơng đối ổn định, phát sinh thƣờng xuyên và là nguồn vốn có tính thanh khoản cao cho NH dƣới hình thức tiền tệ tập trung chờ thanh toán khi chƣa đến hạn thanh toán cho phía nƣớc ngoài. Nguồn vốn ngoại tệ lớn và đa dạng thu đƣợc từ hoạt động TTQT giúp NH phát triển các hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các nghiệp vụ NH quốc tế khác. Hơn nữa, nhờ đẩy mạnh hoạt động TTQT mà NH có thể mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ XNK cũng nhƣ tăng cƣờng nguồn vốn huy động, đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ, do tạm thời quản lý đƣợc nguồn vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp có quan hệ thanh toán qua NH.
Đối với các doanh nghiệp TTQT đối với các doanh nghiệp XNK là khâu kết thúc của một hợp đồng ngoại thƣơng, nó khép lại một chu trình mua bán hàng hoá, dịch vụ. Đây là một nghiệp vụ tổng hợp rất phức tạp. Rủi ro đến với nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, thậm chí còn nằm ngoài dự kiến của doanh nghiệp.