phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất rau má an toàn theo quy trình VietGAP. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển sản xuất rau má theo quy trình VietGAP trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển sản xuất rau má an toàn theo quy trình VietGAP ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. 5 van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU MÁ AN TOÀN THEO QUY TRÌNH VIETGAP 1.
Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất 1. Khái niệm * Về sản xuất Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con ngƣời. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thƣơng mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất nhƣ thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ƣu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Sản xuất là một quá trình, là sự kết hợp của các loại nguyên liệu đầu vào vật chất và phi vật chất (kế hoạch, bí quyết…) khác nhau để nhằm tạo ra thứ gì đó cho tiêu dùng (sản phẩm).
Đó là hoạt động tạo ra sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ, có giá trị sử dụng và mang lại ích lợi cho ngƣời sử dụng Khái niệm sản xuất trong tài khoản Quốc gia Liên Hiệp Quốc khi xây dựng phƣơng pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đƣa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả hàng hóa và dịch vụ đƣợc sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trƣờng hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền.[20] * Về sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tƣ liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lƣơng thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. 6 van Sản xuất nông nghiệp là việc chúng ta có vốn ban đầu là đất, là nƣớc, là giống cây trồng, vật nuôi ta sẽ tự sản xuất nông sản trên chính những gì mình có.
Sản xuất nông nghiệp không chỉ là làm ra lƣơng thực, thực phẩm mà nó còn bao gồm cả khâu sơ chế và chế biến sản phẩm để có thể đƣa ra tiêu thụ bên ngoài thị trƣờng. Trong sản xuất nông nghiệp thì ta có thể chia thành các loại sản phẩm nhƣ: Sản xuất lƣơng thực: lúa, gạo Sản xuất hoa màu: các loại rau, củ, quả Sản xuất các loại hạt: lạc, đỗ, điều, tiêu, cà phê,… Sản xuất thịt, trứng từ vật nuôi: gà, vịt, lợn, trâu bò, cá, tôm,…. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nƣớc. Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng: - Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi ngƣời nông dân.
Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai. - Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đƣợc chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thƣơng mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trƣờng hay xuất khẩu.
Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm đƣợc chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi. [21] * Về trồng trọt Theo Luật trồng trọt, trồng trọt là ngành kinh tế - kỹ thuật trong nông nghiệp có liên quan đến việc gieo trồng cây nông nghiệp, cây cảnh và nấm ăn để phục vụ 7 van mục đích của con ngƣời. Hoạt động trồng trọt bao gồm hoạt động về giống cây trồng; phân bón; canh tác; thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến, thƣơng mại và quản lý chất lƣợng sản phẩm cây trồng. Canh tác là quá trình con ngƣời sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trang thiết bị, vật tƣ nông nghiệp và áp dụng quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm cây trồng khác nhau.
Giống cây trồng là một quần thể cây trồng có thể phân biệt đƣợc với quần thể cây trồng khác thông qua sự biểu hiện của ít nhất là một đặc tính và di truyền đƣợc cho đời sau; đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống; có giá trị canh tác, giá trị sử dụng; bao gồm giống cây nông nghiệp, giống cây dƣợc liệu, giống cây cảnh và giống nấm ăn. Sản phẩm cây trồng là bộ phận thu hoạch của cây nông nghiệp, cây cảnh và nấm ăn. Cây hằng năm là loại cây đƣợc gieo trồng, cho thu hoạch và kết thúc chu kỳ sản xuất trong thời gian không quá 01 năm, kể cả cây hằng năm lƣu gốc. [11] * Nguyên tắc hoạt động trồng trọt - Phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với định hƣớng thị trƣờng, phù hợp với chiến lƣợc phát triển trồng trọt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các nguồn tài nguyên khác; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hợp tác, liên kết sản xuất, xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, sản xuất có hợp đồng, sản xuất đƣợc chứng nhận chất lƣợng; bảo đảm an ninh lƣơng thực; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nƣớc với lợi ích của tổ chức, cá nhân.
- Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng; sử dụng an toàn và hiệu quả các loại vật tƣ nông nghiệp. - Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất lƣợng môi trƣờng đất, nƣớc, quy trình sản xuất; bảo đảm an toàn thực phẩm, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trƣờng. - Phát huy lợi thế vùng, gắn với bảo tồn giống cây trồng đặc sản, giống cây trồng bản địa; bảo vệ hệ thống canh tác bền vững, di sản, cảnh quan, văn hóa trong nông nghiệp gắn với phát triển du lịch sinh thái và xây dựng nông thôn mới. 8 van - Chủ động dự báo, phòng, chống thiên tai và sinh vật gây hại cây trồng; thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; tuân thủ điều ƣớc quốc tế mà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. [11] * Về hiệu quả sản xuất Trong doanh nghiệp hoặc nền sản xuất xã hội nói chung, ngƣời ta hay nhắc đến “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không hiệu quả” hay “sản xuất kém hiệu quả”. Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế học đã đƣa ra rất nhiều quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , có thể khái quát nhƣ sau: - Hiệu quả theo quan điểm của Mác, đó là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành” và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động “ hay tăng hiệu quả. "Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vƣợt quá nhu cầu cá nhân của ngƣời lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội".
- Vận dụng quan điểm của Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết cho rằng “hiệu quả là sự tăng trƣởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ”. [15] - Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thị trƣờng, đứng đầu là Paul A. Samuelson và Wiliam. Nordhalls cho rằng, một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên đƣờng giới hạn khả năng sản xuất của nó và “ hiệu quả có ý nghĩa là không lãng phí ”.
Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lƣợng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lƣợng một loại hàng hoá khác. Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đƣờng giới hạn khả năng sản xuất của nó ”. - Khi bàn về khái niệm hiệu quả, các tác giả Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình, Trần Văn Đức, Quyền Đình Hà thống nhất là cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế. 9 van + Hiệu quả kỹ thuật: Là số lƣợng sản phẩm có thể đạt đƣợc trên chi phí đầu vào.
Hiệu quả kỹ thuật đƣợc áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn nhân lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. + Hiệu quả phân bổ các nguồn lực: Là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm và giá đầu vào đƣợc tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. + Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.