Phát Triển Sản Xuất Mía Nguyên Liệu Đạt Năng Suất Cao Và Chất Lượng Tốt Tại Miền Trung Khô Hạn

Luận văn nghiên cứu phát triển sản xuất mía nguyên liệu đạt năng suất cao, chất lượng tốt, hỗ trợ đổi mới cơ cấu mùa vụ và ổn định nguồn cung cho nhà máy đường tại vùng khô hạn ...

Chuyên ngành

Khoa học công nghệ nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu

2006

286
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về phát triển sản xuất mía nguyên liệu tại vùng khô hạn miền Trung đã được thực hiện nhằm giải quyết các thách thức về năng suất và chất lượng mía. Vùng khô hạn miền Trung là khu vực có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đòi hỏi các giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, việc lựa chọn giống mía phù hợp và áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất. Công ty Cổ phần mía đường Nông Cống Thanh Hóa là đơn vị tiên phong trong việc thử nghiệm các giải pháp này.

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về giống míakỹ thuật canh tác đã được triển khai từ nhiều năm. Tuy nhiên, việc áp dụng vào thực tế sản xuất tại vùng khô hạn miền Trung vẫn còn hạn chế. Các giống mía hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu về khả năng chịu hạn và kháng sâu bệnh. Điều này dẫn đến năng suất thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nông dân.

1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới, các nước như Brazil, Ấn Độ và Trung Quốc đã có nhiều thành công trong việc phát triển giống mía năng suất cao. Các kỹ thuật như nuôi cấy môtrồng xen canh đã được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, việc chuyển giao công nghệ này vào Việt Nam cần phải được điều chỉnh phù hợp với điều kiện địa phương.

II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu

Mục đích chính của đề tài là xây dựng hệ thống các giải pháp khoa học công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng mía tại vùng khô hạn miền Trung. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm điều tra, khảo sát, thí nghiệm và thử nghiệm kỹ thuật. Đối tượng nghiên cứu là các giống mía mới và các kỹ thuật canh tác tiên tiến. Công ty Cổ phần mía đường Nông Cống Thanh Hóa là địa bàn chính để triển khai các nghiên cứu này.

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là các giống mía có khả năng chịu hạn và kháng sâu bệnh. Các giống này được lựa chọn từ cả trong và ngoài nước, nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của vùng khô hạn miền Trung.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu bao gồm điều tra khảo sát, thí nghiệm trên đồng ruộng và phân tích đất đai. Các kỹ thuật như nuôi cấy môtrồng xen canh cũng được áp dụng để tối ưu hóa năng suất mía.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc áp dụng các giải pháp khoa học công nghệ đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Năng suất mía tăng đáng kể, đạt từ 100 đến 150 tấn/ha. Các giống mía mới được lựa chọn có khả năng chịu hạn và kháng sâu bệnh tốt. Công ty Cổ phần mía đường Nông Cống Thanh Hóa đã triển khai thành công các mô hình trình diễn, mang lại lợi nhuận cao cho người nông dân.

3.1. Kết quả về giống mía

Đã lựa chọn được 20 giống mía có khả năng chịu hạn và kháng sâu bệnh. Trong đó, 8 giống chín sớm, 8 giống chín trung bình và 4 giống chín muộn. Các giống này có năng suất cao, phù hợp với điều kiện đất đai của vùng khô hạn miền Trung.

3.2. Kết quả về kỹ thuật canh tác

Các kỹ thuật như trồng xen canhche phủ nilông tự hủy đã được áp dụng thành công. Các quy trình kỹ thuật này giúp tăng năng suất mía và cải thiện chất lượng đất. Hiệu quả kinh tế đạt được là 50 triệu đồng/ha, với lợi nhuận thuần từ 25 đến 30 triệu đồng/ha.

IV. Ứng dụng và hiệu quả

Các giải pháp khoa học công nghệ đã được áp dụng rộng rãi tại vùng khô hạn miền Trung, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các mô hình trình diễn đã được triển khai tại Công ty Cổ phần mía đường Nông Cống Thanh Hóa, với quy mô 3 ha/mô hình. Kết quả cho thấy, năng suất mía tăng đáng kể, đạt 2134,86 tấn mía trong vụ đầu tiên. Các quy trình kỹ thuật đã được quảng bá rộng rãi thông qua các chương trình truyền hình và hội thảo.

4.1. Hiệu quả kinh tế

Các mô hình trình diễn đã mang lại lợi nhuận cao, với tổng thu nhập đạt 849,65 triệu đồng/19,05 ha. Lợi nhuận thuần đạt 465,22 triệu đồng/19,05 ha. Điều này chứng tỏ hiệu quả kinh tế của các giải pháp khoa học công nghệ được áp dụng.

4.2. Hiệu quả xã hội

Đề tài đã đào tạo được 2 thạc sỹ, 12 kỹ sư và 15 trung cấp nông nghiệp. Ngoài ra, 500 cán bộ nông vụ và nông dân đã được tập huấn về các kỹ thuật mới. Điều này góp phần nâng cao trình độ và kỹ năng của người dân địa phương.

V. Kết luận và đề nghị

Các giải pháp khoa học công nghệ đã chứng minh tính hiệu quả trong việc nâng cao năng suất và chất lượng mía tại vùng khô hạn miền Trung. Các kỹ thuật như lựa chọn giống, nuôi cấy mô và trồng xen canh đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Để phát triển bền vững, cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các giải pháp này trên diện rộng. Công ty Cổ phần mía đường Nông Cống Thanh Hóa là đơn vị tiên phong trong việc thực hiện các mô hình trình diễn, cần được nhân rộng để phát triển ngành mía đường tại Việt Nam.

5.1. Kết luận

Các giải pháp khoa học công nghệ đã tạo ra bước đột phá trong sản xuất mía tại vùng khô hạn miền Trung. Năng suất mía tăng đáng kể, đạt từ 100 đến 150 tấn/ha. Các kỹ thuật canh tác tiên tiến đã được áp dụng thành công, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

5.2. Đề nghị

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các giải pháp khoa học công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng mía. Các mô hình trình diễn cần được nhân rộng để phát triển ngành mía đường tại Việt Nam. Công ty Cổ phần mía đường Nông Cống Thanh Hóa cần được hỗ trợ để triển khai các dự án lớn hơn.

01/03/2025
Luận văn phát triển sản xuất mía nguyên liệu đạt năng suất cao chất lượng tốt phục vụ đổi mới cơ cấu mùa vụ và cùng cấp ổn định mía nguyên liệu cho các nhà máy đường tại vùng khô hạn miền trung

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Cây mía là cây công nghiệp ngắn ngày – là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đường ở các vùng á nhiệt đới, nhiệt đới trên thế giới và Việt Nam. Là một cây trồng có sức sinh trưởng mạnh (Năng suất tiềm năng ở Việt Nam đã được xác định ở mức 200 tấn mía cây/ha), mía không kén đất, có thể phát triển đem lại hiệu quả kinh tế ở những vùng đất nghèo dinh dưỡng, vùng đồi núi, đất dốc khô hạn,… Nơi đây mía có thể phát triển thành vùng rộng lớn và chương trình mía đường đã khẳng định tính đúng đắn về chủ trương của Đảng và Nhà nước trong sự phát triển nội lực khai thác có hiệu quả đất đai tạo ra sản phẩm đa dạng thông qua việc xây dựng vùng nguyên liệu mía và công nghiệp sản xuất chế biến đường đem lại, Góp phần thực hiện Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa Nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, để có thể phát triển bền vững vùng nguyên liệu cần phải xây dựng vùng nguyên liệu mía tập trung, đảm bảo cho nhà máy đường hoạt động hết công suất, ổn định lâu dài, có năng suất chất lượng mía cao, hạ giá thành và rải vụ mía, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy đường trong thời gian dài. Trên thực tế cho thấy, vùng mía nguyên liệu khu vực miền Trung là một vùng có diện tích rộng lớn tới hàng chục vạn ha, phục vụ nguyên liệu cho nhiều nhà máy như nhà máy đường Lam Sơn, nhà máy đường Nông Cống, nhà máy đường Thạch Thành, nhà máy đường Nghệ An Tate&Lyle, nhà máy đường Sông Con, nhà máy đường Quảng Ngãi, nhà máy đường Quảng Nam, nhà máy đường Phổ Phong, nhà máy đường Bình Định, An Khê, Bourbon, Kontum; Song sản xuất mía nguyên liệu còn nhiều bất cập thể hiện trong công tác giống (giống chưa phù hợp, giống xấu lẫn tạp và thoái hóa), kỹ thuật canh tác không hợp lý, sâu bệnh nhiều nên năng suất đạt thấp (< 40 tấn/ha, chữ đương CCS ≤ 9, 10) dẫn đến nông dân và nhà máy sản xuất kém hiệu quả, ít an toàn và thua lỗ.

Để cây mía có thể trụ vững và phát triển, cũng như có thể xây dựng được một vùng nguyên liệu mía phồn thịnh trong những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt (khô hạn, có gió Lào nắng nóng về mùa hè và rét hạn về mùa đông), tiến tới ngành mía đường của vùng có thể hạ giá thành, đa dạng hóa sản phẩm, đủ sức cạnh tranh trong thời gian Việt Nam đã gia nhập WTO, cần phải nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể được xây dựng dựa trên đặc điểm khí hậu và điều kiện thổ nhưỡng để sử dụng hiệu quả cao tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, lượng mưa, ánh sáng), tài nguyên 11 kinh tế (vốn đầu tư, nhân lực vật tư kỹ thuật, trang bị), tạo ra các bước đột phá về năng suất, cũng như tạo thế ổn định sinh học (chống xói mòn, bảo vệ đât, ổn định sản lượng…). Do đó, Đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ nhằm phát triển sản xuất mía nguyên liệu đạt năng suất cao chất lượng tốt, phục vụ đổi mới cơ cấu mùa vụ và cung cấp ổn định mía nguyên liệu cho các nhà máy đường tại vùng khô hạn miền Trung” là hết sức cần thiết, nhằm tạo ra một vùng nguyên liệu mía từ thế “độc canh” sang vùng có “Hệ canh tác nền mía”; Trong đó mía là cây trồng chính, các cây trồng khác, đặc biệt là các cây họ đậu như lạc, đậu tương (trồng xen hoặc luân canh với mía) là cây trồng phụ đều cùng song song phát triển; Kết hợp với các sản phẩm phụ của Nhà máy và từ cây mía tạo nguồn thức ăn phát triển chăn nuôi, nghề phụ, các ngành chế biến thực phẩm như sản xuất nấm ăn, phân bón vi sinh,…, tạo đà trở lại cho cây mía phát triển, cũng như đa dạng hóa sản phẩm, tạo thế ổn định giữa vùng nguyên liệu và nhà máy có ý nghĩa tạo thành một chu trình khép kín cùng phát triển giữa Nông nghiệp – Công nghiệp – Thương nghiệp ở vùng mía nguyên liệu theo hướng quy mô hóa, chuyên môn hóa và thâm canh hóa, làm tăng hiệu quả đất mía, góp phần nâng cao và ổn định đời sống của hàng triệu hộ nông dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn nhiều đói nghèo khó khăn. 12 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 1. Tên đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ nhằm phát triển sản xuất mía nguyên liệu đạt năng suất cao chất lượng tốt, phục vụ đổi mới cơ cấu mùa vụ và cung cấp ổn định mía nguyên liệu cho các nhà máy đường tại vùng khô hạn miền Trung”.

Đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (kèm theo Quyết định số 16/2003/QĐ-BKHCN ngày 18/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ). Thời gian thực hiện: 36 tháng (từ tháng 1/2004 – 12/2006). Kinh phí: Tổng số: 2485,80 triệu đồng Trong đó, từ ngân sách sự nghiệp khoa học: 2100,00 triệu đồng Giá trị hợp đồng: 2090,00 triệu đồng Kinh phí nghiệm thu Nhà nước: 10. Cơ quan chủ trì đề tài: Tên tổ chức KH&CN: Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội – Bộ Giáo dục và Đào tạo.8276346 Học hàm/học vị: Phó Giáo Sư, Tiến sỹ Chức danh khoa học: Cán bộ giảng dạy đại học – Giảng viên chính Điện Thoại: 84.8691561 (NR) Địa chỉ nhà riêng: Số 12 ngách 41/69 phố Vọng, khu tập thể 128C Đại La, Đồng tâm, Hai Bà Trưng – Hà Nội.

Chủ nhiệm đề tài: Họ và tên: ĐOÀN THỊ THANH NHÀN Fax: 84.8276554 Email: Website www.vn Địa chỉ: Trâu Quỳ - Gia Lâm – Hà Nội 8. Cơ quan phối hợp chính: - Công ty cổ phần mía đường Nông Cống Thanh Hóa - Viện Di truyền Nông nghiệp - Cục Nông nghiệp và hiện nay là Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Tổng Công ty mía đường 1 – Hà Nội. - Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. - Công ty Liên doanh đường Nghệ an Tate&Lyle.

13 Chương một: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Cây mía (Saccharum.Officinarum) là một trong những cây công nghiệp quan trọng của nhiều nước vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. Là cây có ý nghĩa kinh tế nhiều mặt, giá trị tổng hợp cao; Ngoài đường Sucroza, các sản phẩm phụ là những nguyên liệu trực hoặc gián tiếp cho nhiều ngành công nghiệp khác và giá trị này của chúng sẽ gấp hơn rất nhiều so với chính phẩm (đường). Trong tương lai không xa mía còn là cây cho năng lượng hàng đầu của thế kỷ XXI.

Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học cho thấy: Mía là cây trồng dễ tính, dễ thích nghi, thích ứng rộng. Là cây C4, cây mía có khả năng quang hợp xuất sắc, nên có sức sinh trưởng và tái sinh mạnh ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, cũng như chống chịu tốt với các điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Những phát hiện mới nhất của các nhà khoa học Brazil cho thấy: Vào thời kỳ sinh trưởng giữa của cây mía (thời kỳ vươn cao), có thể tự cung cấp một lượng đạm sinh học, nhờ sự hoạt động của vi sinh vật cố định đạm sống trong cây. Điều này càng nâng cao vị thế của cây mía, về giá trị cải tạo đất của nó, cũng như có ý nghĩa cho các nhà sản xuất giảm bớt chi phí đầu vào, thông qua khai thác lượng đạm sinh học có trong cây mía.

Với ưu thế đó, mía đã được phát triển thành vùng rộng lớn tại các nơi có điều kiện khí hậu và đất đai khác nhau; Trên đất sỏi sạn như ở (Môzămbic, Đài Loan); ở vùng hạn nặng và có gió lớn như (Nam Caribê, Assoum - Ai cập) hoặc có sương giá nặng như ở (Bang Florida, Luziana Bắc Mỹ. Cũng chính tại đây, các Nhà máy chế biến đường và các phụ phẩm sau đường, được xây dựng để khai thác nguyên liệu tại chỗ, nhằm giảm chi phí vận chuyển và hạ giá thành sản phẩm. Để sản xuất có lãi và ngày càng đem lại nhiều lợi nhuận cho Nhà máy, cần phải quy hoạch vùng nguyên liệu mía cân xứng với quy mô của Nhà máy và Vùng nguyên liệu phải đi trước một bước, để nhanh chóng sau khi xây dựng, sản xuất của Nhà máy sớm đạt đến điểm sản lượng hoà vốn và có lãi, cũng như cung cấp đủ nguyên liệu với chất lượng tốt để Nhà máy chạy hết công suất và hoạt động trong một thời gian dài (6 tháng đến 1 năm). 14 Trên thực tế, điều này lại mâu thuẫn với đặc điểm của cây mía - Là cây đơn tử diệp, nên trong qúa trình hình thành năng suất, cây mía chịu ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố môi trường, cũng như thường chín rất tập trung trong một thời gian ngắn, nếu thu hoạch không kịp, mía sẽ ra hoa và giảm sút nhanh chóng tỷ lệ đường trong cây mía.

Do đó, các nước trên Thế giới rất coi trọng xây dựng, củng cố, phát triển bền vững vùng nguyên liệu ở cả hai lĩnh vực: kỹ thuật và kinh tế. Song song với nghiên cứu "Đổi mới doanh nghiệp "; Về mặt kỹ thuật, mối quan tâm hàng đầu của Thế giới là công tác Giống, cải tiến Giống và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, phù hợp với giống được lựa chọn để ngày càng đạt đến mức năng suất và chất lượng cao hơn. Tình hình nghiên cứu về giống mía 1. Chọn tạo Bộ giống mía có năng suất, chất lượng cao, đa dạng và phong phú Bằng phương pháp lai hữu tính truyền thống, đến nay các nước trên Thế giới đã tạo ra hàng vạn mẫu giống và có một Bộ giống mía đa dạng, phong phú, thích hợp với các điều kiện đất đai, khí hậu của nhiều vùng sinh thái khác nhau, cho năng suất và chất lượng rất cao.

Ngày nay năng suất tối đa của giống mía lai này, đã thu được ở Đài Loan là 456,95 tấn/ha với mía 24 tháng tuổi và ở Ấn Độ là 406,35 tấn/ha với mía 12 tháng tuổi. Các giống mía của Thế giới có năng suất chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh tốt như: Cuba 86 -12; H109, 32-8560 (Hawoai - Mỹ ), Q124, H56 -752 (Úc), ROC16, ROC10, ROC23, ROC26 (Đài Loan), TĐĐ22 (ROC22), VĐ 85-177, VĐ 86- 368 (TQuốc), R570 (Pháp); Các giống chịu hạn như: ROC9, F134 (Đài Loan), QĐ15, QĐ17 (TQuốc), Ja605 (Cuba), Q132 (Úc), CO6806 (Ấn Độ). Các giống có hàm lượng đường cao, tái sinh mạnh như CO475 (Ấn Độ), R579 (Pháp), QĐ15, QĐ17 (TQuốc); Giống chịu chua phèn như: K84 - 200 (Thái Lan).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát triển sản xuất mía nguyên liệu năng suất cao, chất lượng tốt tại miền Trung khô hạn" tập trung vào các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất mía trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của miền Trung. Nội dung chính bao gồm việc áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến, lựa chọn giống mía phù hợp, và quản lý nguồn nước hiệu quả để đảm bảo năng suất và chất lượng mía nguyên liệu. Tài liệu này mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, nhà quản lý nông nghiệp, và các nhà hoạch định chính sách, giúp họ hiểu rõ hơn về cách phát triển bền vững ngành mía đường trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Để mở rộng kiến thức về phát triển nông nghiệp bền vững, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, hoặc Luận án TS xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại ở tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, Luận văn tốt nghiệp quản lý của chính quyền thành phố Chí Linh đối với phát triển nông nghiệp cũng cung cấp những góc nhìn sâu sắc về quản lý và phát triển nông nghiệp hiệu quả.