chương 1, nghiên cứu sẽ đúc kết lại những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hoạt động sản xuất cá cảnh trên địa bàn thành phố, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục điểm yếu và phát huy thế mạnh. Chương 5: Kết luận - đề nghị Từ những đánh giá thực trạng ngành sản xuất cá cảnh TP.HCM nghiên cứu sẽ gợi ý một số giải pháp phát triển hoạt động sản xuất cá cảnh phù hợp với nền nông nghiệp đô thị. Trong đó, các giải pháp được nêu ra: - Phát triển theo khu vực và theo vùng - Hội nhập, liên kết trong sản xuất và kỹ thuật. 4 123doc Chương 2 NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ; HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CÁ CẢNH Ở MỘT SỐ NƯỚC KHU VỰC ĐÔNG NAM Á VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 2.
Khái niệm về Nông nghiệp đô thị Theo tổ chức Lương nông thế giới của Liên hiệp quốc (FAO), nông nghiệp đô thị được định nghĩa như là một ngành sản xuất, chế biến và thương mại lương thực và nhiên liệu, chủ yếu đáp ứng nhu cầu hàng ngày của người tiêu dùng trong một thị trấn, thành phố, hoặc đô thị dựa trên nguồn đất và nước phân tán ở khắp các vùng đô thị và ngoại ô, áp dụng các biện pháp thâm canh, sử dụng và tái sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất thải đô thị để sản xuất ra nhiều loại cây trồng và vật nuôi. Nông nghiệp đô thị như là một ngành mà nó đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của một đô thị. Theo Hội đồng Nông nghiệp, Khoa học và Công nghệ (The Council on Agriculture, Science and Technology, CAST, 2002) là một công ty quốc tế về khoa học và xã hội chuyên ngành ở Ames Iowa thì nông nghiệp đô thị là một hệ thống phức hợp bao gồm nhiều khía cạnh được quan tâm, từ cốt lõi truyền thống của các hoạt động gắn liền với sản xuất, chế biến, tiếp thị, phân phối và tiêu thụ, cho đến vô số các lợi ích và các dịch vụ khác ít được biết tới và nói tới, bao gồm sự giải trí, vui chơi, sức sống kinh tế và tinh thần doanh nghiệp, sức khỏe và phúc lợi cá nhân, sức khỏe và phúc lợi cộng đồng, phong cảnh xinh đẹp, và sự phục hồi môi trường. Nông nghiệp đô thị bao gồm cả về môi trường, vấn đề sức khỏe và giải trí.
Nông nghiệp đô thị có thể được định nghĩa như là sự trồng trọt hoặc chăn nuôi gia súc nhằm mục tiêu lương thực hoặc các mục đích khác bên trong hoặc xung quanh các đô thị, các thị trấn, và liên quan đến các hoạt động như sản xuất và cung cấp vật tư đầu vào, chế biến và tiếp thị sản phẩm. 5 123doc Nông nghiệp đô thị thường hiện diện ở trong hoặc ở vùng ven đô thị, bao gồm nhiều loại hệ thống sản xuất, trải rộng từ việc sản xuất tự cung tự cấp cho đến sản xuất thương mại hóa hoàn toàn. Nông nghiệp đô thị có các đặc trưng: - Gần với thị trường tiêu thụ. - Cạnh tranh đất đai rất cao.
- Diện tích có giới hạn. - Sử dụng các tài nguyên đô thị như chất thải hữu cơ rắn và lỏng. - Sản xuất các sản phẩm nhanh hỏng. Bằng cách cung cấp các sản phẩm nhanh hỏng như rau, sữa, sản phẩm gia cầm, nông nghiệp đô thị bổ sung cho nông nghiệp ở nông thôn và gia tăng hiệu quả của hệ thống thực phẩm quốc gia.
Đặc điểm nông nghiệp đô thị và ven đô thị 1 - Nông nghiệp đô thị: các diện tích nhỏ trong đô thị được sử dụng để trồng cây hoặc chăn nuôi gia súc. - Nông nghiệp ven đô thị: diện tích khu vực nông nghiệp gần thành phố sản xuất sản phẩm nông nghiệp như rau, hoa quả, thịt, trứng và sữa. - Các cơ hội của nông nghiệp đô thị: + Giảm đóng gói, lưu trữ và vận chuyển đối với thức ăn; + Tạo công ăn việc làm và thu nhập tiềm năng; 1 FAO. Urban and peri-urban agriculture.org/unfao/bodies/COAG/X0076e.htm, Phòng khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam 6 123doc + Tạo cơ hội tiếp cận lượng thực cho người nghèo mà không cần ra đến chợ; + Có sẵn các loại thức ăn tươi, dễ hư hỏng; + Tiếp cận dễ dàng với các hoạt động dịch vụ, cơ sở xử lý chất thải; + Khả năng tái sử dụng chất thải.
- Bên cạnh đó nông nghiệp đô thị còn có các rủi ro sau: + Rủi ro về sức khỏe và môi trường từ những phương thức canh tác nông nghiệp và thủy sản không phù hợp; + Tăng khả năng cạnh tranh về sử dụng nước, đất, năng lượng và lao động; + Giảm năng lực hấp thụ ô nhiễm của môi trường tự nhiên. Tầm quan trọng của nông nghiệp đô thị 2. Kinh tế 2 Nông nghiệp đô thị và ven đô thị góp phần mở rộng nền tảng kinh tế của thành phố thông qua sản xuất, chế biến, đóng gói và tiếp thị các sản phẩn tiêu dùng. Điều này dẫn đến sự gia tăng các hoạt động của doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm, giảm chi phí thực phẩm và tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn.
Tạo cơ hội cho phụ nữ trở thành một phần trong nền kinh tế phi chính thức thông qua các hoạt động canh tác và buôn bán có thể được kết hợp dễ dàng với các hoạt động chăm sóc gia đình và trẻ con. Nông nghiệp đô thị cung cấp việc làm, thu nhập và lương thực cho cư dân đô thị qua đó góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho khu vực đô thị. Xã hội3 Nông nghiệp đô thị được coi như là một phương tiện cải thiện sinh kế của cư dân đô thị và ngoại ô. Các hộ gia đình và các cộng đồng nhỏ dân cứ có thể sử dụng để sản xuất lương thực cho chính họ và dân cư đô thị.
Một vài nông trại ở đô thị còn có thể giúp phụ nữ có việc làm khi họ không thể tìm việc làm trong khu vực kinh tế chính thức. Sản xuất lương thực tại chỗ ở các 2 Jack Smit et al. “Urban agrculture for Sustainable Cities: Using Wates and Idle Land and Water bodies as resources” 3 “Urban Food Security: Urban agriculture, a respose o crisis?” UA Magazine (2000). 7 123doc vùng đô thị và ngoại ô đóng góp cho nền kinh tế bằng cách tạo ra công ăn việc làm và sản xuất hàng hóa có giá trị.
Theo FAO và IDRC (2003), việc đưa nông nghiệp đô thị vào kế hoạch phát triển của địa phương và sử dụng đất đúng đắn sẽ giúp cho các cộng đồng nghèo khổ có được phúc lợi tốt hơn, đồng thời đấu tranh với tình trạng nghèo khổ ở đô thị. Hiệu quả năng lượng4 Do sản xuất tại khu vực đô thị, năng lượng sử dụng để vận chuyển sẽ giảm đi khi nông nghiệp đô thị có thể cung cấp các sản phẩm nuôi trồng tại chỗ. Chất lượng thực phẩm Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, các sản phẩm nông nghiệp địa phương, đặc biệt là nông nghiệp hữu cơ có hương vị tốt hơn các sản phẩm nông nghiệp sản xuất theo phương thức công nghiệp và đồng thời nhu cầu sử dụng chất bảo quản thực phẩm cũng giảm đi do không phải vận chuyển xa. Mặc khác với mục tiêu sản xuất bền vững bằng cách giảm hàm lượng thuốc trừ sâu trong trồng trọt cũng đã góp phần làm tăng chất lượng thực phẩm và bảo vệ môi trường.
Những vấn đề cần quan tâm đối với nông nghiệp đô thị và ven đô thị 2. Thức ăn an toàn và đầy đủ dinh dưỡng cho người tiêu dùng Như đã nói ở trên, nông nghiệp đô thị và ven đô thị có thể đóng góp vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho người tiêu dùng khu vực đô thị bằng các cách như: làm tăng số lượng lương thực; người nghèo cũng có thể tiếp cận trực tiếp với nguồn lương thực từ những hộ sản xuất và từ những chợ tự phát; cung cấp thức ăn tươi, ít bị hư hỏng; tạo cơ hội giải quyết công ăn việc làm cho người dân khu vực đô thị và ven đô thị. Cải thiện hiệu quả sản xuất nông nghiệp Do gần với thị trường tiêu thụ, sản xuất nông nghiệp khu vực đô thị và ven đô thị giúp giảm chi phí bảo quản và vận chuyển nhờ đó chất lượng sản phẩm cũng được nâng lên, góp phần bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng.com/wpdyn/content/article/2008/03/07/AR200830702520.html 8 123doc Nông nghiệp đô thị và ven đô thị tạo cơ hội liên kết với các doanh nghiệp chế biến thực phẩm có có quy mô nhỏ để thâm canh hóa sản xuất, tạo ra nhiều thực phẩm cao có giá trị. Tính bền vững của môi trường đô thị đối với cộng đồng xã hội Rủi ro xảy ra từ nông nghiệp đô thị và ven đô thị đối với sức khỏe và môi trường chủ yếu do việc sử dụng không đúng các loại vật tư nông nghiệp như: sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng mục đích, sử dụng quá hàm lượng quy định, sử dụng hóa chất cấm trong nuôi trồng thủy sản.v… đã làm ô nhiễm nguồn nước, lây nhiễm vi sinh, đất và ô nhiễm không khí.
Việc sử dụng nước cho nông nghiệp đô thị và ven đô thị cũng là vấn đề đáng lo ngại. Nếu sử dụng nước thải sinh hoạt để sử dụng cho rau có khả năng làm ô nhiễm thực phẩm do các bệnh hoặc vi khuẩn có từ nguồn nước thải gây ra. Do tốc độ đô thị hóa, việc sử dụng đất cho mục đích phi nông nghiệp cũng tạo ra sự biến động về nghề nghiệp xã hội, giá đất tăng lên cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nông nghiệp đô thị. Một số mô hình nông nghiệp đô thị và ven đô thị trên thế giới 2.
Nông nghiệp đô thị của Luân Đôn5 Tỷ lệ diện tích đất ở khu vực đô thị có thể canh tác được của Luân Đôn rất lớn. Khoảng 10% diện tích tổng thể của Luân Đôn là đất nông nghiệp, trong đó một nửa hộ gia đình ở Luân Đôn có vườn và có khoảng 30.000 người canh tác và khoảng 1.000 người nuôi ong. Phần lớn người nông dân ở Luân Đôn tự sản xuất và sử dụng phân hữu cơ để canh tác. Việc tự sử dụng phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt đã làm giảm 40% chất thải gia đình ra môi trường bên ngoài; việc giảm vận chuyển thực phẩm cũng góp phần làm cải thiện chất lượng không khí ở Luân Đôn.
Nhu cầu tiêu thụ thực phẩm ở Luân Đôn khoảng 2.000 tấn mỗi năm, nếu chỉ tính diện tích rau và cây ăn trái, Luân Đôn có thể tự sản xuất khoảng 232. Urban and pei-urban agriculture.org/unfao/bodies/COAG/X0076e.