Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÀNH TRUYỀN HÌNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, là đối tượng cần phải khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ thập niên 80 của thế kỷ XX với sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý hiện đại, lấy con người làm trung tâm thì thuật ngữ "nguồn nhân lực" bắt đầu được sử dụng rộng rãi thể hiện một sự nhìn nhận lại về vai trò của yếu tố con người trong quá trình phát triển. Với phương thức quản lý mới là quản lý nguồn nhân lực với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để NLĐ có thể phát huy ở mức tối đa các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua việc tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển.
Quản lý, quản trị hiện đại rất coi trọng nguồn nhân lực Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Nicholas Henry (Quản trị công và Chính sách công, tái bản lần thứ 10, 2007- Public Administration and Public affairs, 10th edition 2007) “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển KT-XH của quốc gia, khu vực, thế giới [Tr.256] Theo Cơ quan phát triển của Liên hiệp quốc UNDP: "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước". [26, tr 35] Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu, PGS.
Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [ 3, tr 12]. 7 Luan van Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 : Đứng theo góc độ vĩ mô, NNL của một quốc gia thì nguồn nhân lực được hiểu với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [ 20 ,tr 7] “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [ 20 ,tr 8] Ở nước ta, khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước. Một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước mang mã số KX-07 do GS.
Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, cho rằng: Nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [17,Tr. Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực được hiểu là sự tổng hòa về mặt số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực. Như vậy, tuy cách tiếp cận nghiên cứu trong những lĩnh vực khác nhau có thể rất khác nhau nhưng có điểm chung mà ta có thể nhận thấy qua các định nghĩa trên khi nói về NNL tức là nói về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, trong đó: - Số lượng nguồn nhân lực được biển hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực. - Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, trình độ dân trí.
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp của trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ của người lao động. + Trí lực là năng lực của trí tuệ của con người. Trí lực là sức mạnh của tri thức và trí tuệ của người lao động. Trí lực thể hiện ở trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp của NLĐ so với yêu cầu của công việc mà người đó đảm nhận.
Trí lực là yếu tố trí tuệ phản ánh sức sản xuất và năng lực sáng tạo của người lao động, vì thế đóng vai trò quyết định trong phát triển NNL. 8 Luan van + Thể lực của nguồn nhân lực được thể hiện qua trạng thái sức khỏe của NLĐ. Thể lực không chỉ sức khỏe cơ bắp, mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là khả năng vận động của trí lực, là sức mạnh của ý chí. Thể lực là điều kiện để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn.
Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy khi thể lực con người được phát triển. Nói cách khác, trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọi tài sản, nhưng chính thể lực là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó. + Nhân cách thẩm mỹ, quan điểm sống là biểu hiện một loạt các giá trị về NLĐ như: đạo đức, tác phong, sự năng động, tính kỷ luật và thái độ làm việc của người lao động, khả năng hợp tác làm việc theo nhóm…Trong đó, đạo đức đóng vai trò quan trọng vì nó đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt hơn các chức năng xã hội và nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn. Vậy nên, khi nói đến NNL chính là nói đến sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ.
Đây là các yếu tố cơ bản nhất hướng người lao động đến sự phát triển toàn diện.2 Phát triển nguồn nhân lực Cũng giống như khái niệm nguồn nhân lực, khái niệm phát triển nguồn nhân lực là một khái niệm còn khá mới mẻ và có nhiều quan điểm khác nhau: Giáo trình Quản trị nhân lực của Đại học lao động - xã hội, do PGS. Lê Thanh Hà chủ biên (2009) đưa ra khái niệm: Phát triển nhằm mở ra cho NLĐ những công việc mới, vươn ra khỏi phạm vi công việc hiện dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Phát triển bao gồm các hoạt động nhằm chuẩn bị cho nhân viên theo kịp với cơ cấu tổ chức khi tổ chức có yêu cầu thay đổi và phát triển. Nội dung của phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức gồm ba hoạt động cơ bản là: Giáo dục, đào tạo và phát triển [6,tr.
Giáo dục là hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai. Hoạt động giáo dục thường gắn liền với các hoạt động nâng cao kiến thức và hiểu biết cho con 9 Luan van người [6,tr. Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình [6,tr. Phát triển là hoạt động học tập nhưng mở ra cho người lao động những công việc mới dựa trên định hướng phát triển trong tương lai của tổ chức [6,tr.
Nội hàm của phát triển nguồn nhân lực bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và các kĩ năng được tạo nên nhờ quá trình học suốt đời và tích lũy trong cuộc sống và lao động.TS Bùi Văn Nhơn trong cuốn “Quản lý và phát triển NNL xã hội” xuất bản năm 2006: “Phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho NNL (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [20,tr. Trong khái niệm này chất lượng NNL được giải thích như sau: “Thể lực của NNL: sức khỏe và sức khỏe tinh thần” [20,tr. “Trí lực của NNL: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động” [20,tr. “Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân, do PGS.TS Trần Xuân Cầu chủ biên năm 2008: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa, truyền thống lịch sử… Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao” [1,tr. 10 Luan van Tóm lại, cho dù có nhiều cách tiếp cận thì ở góc độ chung nhất có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của con người về mọi mặt (thể lực, trí lực và nhân cách thẩm mỹ, quan điểm sống), đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển các chủ thể như doanh nghiệp, tổ chức, quốc gia. Các nhân tố cấu thành nguồn nhân lực Tình trạng sức khỏe. Một yếu tố không thể thiếu đối với NLĐ là sức khoẻ.
Tình trạng sức khỏe của người lao động bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tinh thần và phải đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong và bên ngoài (bao gồm sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần). Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, thể hiện khả năng mang vác vận động của chân tay còn sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thực tiễn. Sức khỏe được phản ánh qua nhiều chỉ tiêu biểu hiện như: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ.