CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN. Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Khái niệm về nguồn nhân lực.
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, tùy theo cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau của mỗi tác giả mà có quan niệm khác nhau về NNL. Có thể nêu một số quan niệm như sau: Theo PGS. Nguyễn Tiệp đã nhìn nhận NNL như sau: Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [13, Tr. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Dưới một góc độ khác Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [13, Tr. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [2, Tr.
Cũng với quan niệm coi NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì khái niệm về NNL theo quan niệm của Nicholas Henry “nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [33]. Theo quan điểm của tác giả về NNL, trước hết cần phải hiểu đó là toàn bộ những NLĐ đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã 8 hội và các thế hệ những NLĐ tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn. Như vậy, NNL không chỉ đơn thuần là số lượng và cơ cấu lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm các yếu tố: chất lượng lao động (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp), và phẩm chất lao động (thái độ, tác phong, phong cách làm việc) nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. Khái niệm về NNL trong doanh nghiệp: NNL của tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
NNL khác với các nguồn lực khác của DN do chính bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh [3, Tr 1-2] Theo Giáo trình Nguồn nhân lực, Trường Đại học Lao động xã hội do PGS. NguyễnTiệp chủ biên, xuất bản năm 2005 thì: NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những NLĐ làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [13, tr 7] Theo GS.
Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và PTNNL xã hội xuất bản năm 2006 thì: NNL doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng DN, là số người có trong danh sách của DN, do DN trả lương” [12, Tr 72]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này khái niệm về NNL trong DN được hiểu như sau: NNL trong DN là toàn bộ lực lượng lao động được đặc trưng bởi các yếu tố số lượng, cơ cấu, chất lượng và phẩm chất của NLĐ trong DN đó. Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực. Cho đến nay, khái niệm về phát triển NNL được nhiều tổ chức, cá nhân đưa ra và được sử dụng khá rộng rãi.
Cũng giống như khái niệm về NNL, khái niệm về PTNNL cũng được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau của mỗi tổ chức và cá nhân. Cụ thể: Theo Giáo trình Kinh tế Lao động, Trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu và PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên xuất bản năm 2008 thì: PTNNL là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử.
Do đó, PTNNL đồng nghĩa với quá trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của NNL về mọi mặt: thể lực, trí lực, nhân cách, đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển đất nước [2, Tr.104] Theo giáo trình Quản trị nhân lực Trường Đại học Kinh tế quốc dân xuất bản năm 2004 thì: PTNNL (theo nghĩa rộng): là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của NLĐ [5, Tr. Khái niệm này chưa nhấn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của PTNNL là phát triển tổ chức, phát triển cá nhân NLĐ. Theo khái niệm này thì nội dung PTNNL bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển. “Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai.
Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho NLĐ có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho NLĐ nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của NLĐ để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. 10 Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của NLĐ, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức” [5, Tr. Như vậy, PTNNL xét trong phạm vi vĩ mô một quốc gia bao gồm ba khía cạnh về các mặt: phát triển thể lực, nâng cao phẩm chất và phát triển trí lực NNL.
Trong đó mặt phát triển thể lực, nâng cao phẩm chất liên quan nhiều đến các chế độ, chính sách về: giáo dục, văn hóa, thể thao, y tế, điều kiện sinh hoạt, dinh dưỡng, xây dựng văn hóa cộng đồng để nâng cao tinh thần đoàn kết, yêu nước của mỗi người dân …, phát triển về trí lực bao gồm nhiều nội dung như: giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng NNL. PTNNL xét trong phạm vi vi mô chỉ các hoạt động tạo cơ hội phát triển kỹ năng, năng lực của cá nhân để phát triển nghề nghiệp và sự nghiệp, phát triển bao gồm cả đào tạo nhưng liên quan trặt chẽ tới nghề nghiệp, nhiệm vụ trong tương lai của NLĐ trong tổ chức, vì vậy PTNNL còn bao gồm nhiều hoạt động liên qua như: thiết kế lại công việc, làm giàu công việc, luân chuyển nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả của NNL theo chiến lược mục tiêu đã được hoạch định. Từ các khía cạnh nghiên cứu của Luận văn, khái niệm PTNNL được hiểu như sau: PTNNL là quá trình tạo ra sự thay đổi về số lượng, chất lượng và nâng cao phẩm chất NNL với việc nâng cao hiệu quả sử dụng NNL nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của ngành hay của một DN thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp đào tạo, phát triển và các biện pháp quản lý với mục đích vì sự phát triển của tổ chức, của cá nhân. Khái niệm về PTNNL trong doanh nghiệp Khái niệm về PTNNL trong DN là khái niệm PTNNL những được thực hiện trong phạm vi một DN.
Vì vậy, PTNNL trong DN có mục tiêu, nội dung, phương pháp và các hình thức có những điểm riêng. 11 Về mục tiêu: PTNNL trong DN hướng chủ yếu tới việc thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển chung của DN. Về nội dung: Khi nghiên cứu về PTNNL đã có nhiều đề tài khác nhau tập trung nghiên cứu về các nội dung: Số lượng và cơ cấu phù hợp; phát triển kỹ năng; phát triển thể lực; rèn luyện, phát triển phẩm chất; tạo sự thăng tiến; khai thác tốt hơn các khả năng, tiềm năng của NLĐ …. Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu PTNNL của một DN ở hai khía cạnh phát triển: − Số lượng và cơ cấu phù hợp.
− Nâng cao chất lượng NNL. Trên thực tế trong DN có nhiều chức danh công việc, mỗi một chức danh có yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp, số lượng và cơ cấu riêng do vậy PTNNL sẽ hướng tới việc để NLĐ đảm nhận từng chức danh có kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với yêu cầu công việc. Trên cơ sở phân tích đó DN sẽ đầu tư tài chính để thực hiện việc PTNNL để đạt được mục tiêu đó. PTNNL trong DN là việc phát triển về số lượng và chất lượng nhân lực thông qua thực hiện các chức năng của công tác PTNNL, nhằm có được một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức trong từng thời gian nhất định.
PTNNL là hoạt động mang tính chủ quan của các bên tham gia quá trình xây dựng và phát triển để đáp ứng các yêu cầu hoặc thách thức của điều kiện khách quan, giúp cho NLĐ có khả năng thích ứng cao hơn theo định hướng tương lai của tổ chức đó. PTNNL trong doanh nghiêp có các chức năng chủ yếu là: đảm bảo cơ cấu và chất lượng NNL thể hiện ở năng lực thực hiện nhiệm vụ; đáp ứng yêu cầu phát triển các hoạt động của DN; phát triển nghề nghiệp cá nhân NLĐ trong DN và cuối cùng là cải thiện năng suất, hiệu quả hoạt động của DN. Các chức năng chủ yếu được trình bày trong Sơ đồ 1.