phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bố cục thành 3 chƣơng. - Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC. - Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH AN GIANG. - Chƣơng 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2025.
8 Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Quan niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau, cụ thể: - Dƣới góc độ kinh tế chính trị Mác-xít: V.Lênin đã khẳng định: “Lực lƣợng sản xuất hàng đầu của nhân loại là giai cấp công nhân, là ngƣời lao động” [23]. - Theo lý luận của kinh tế học phát triển, con ngƣời đƣợc xem xét, đề cập với tƣ cách là lực lƣợng sản xuất chủ yếu, là phƣơng tiện để sản xuất hàng hoá và dịch vụ, đƣợc xem nhƣ là lực lƣợng lao động cơ bản nhất trong xã hội; nó là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cho tốc độ tăng trƣởng sản xuất, dịch vụ nhanh và bền vững. - Ngân hàng thế giới cho rằng, NNL là toàn bộ “vốn ngƣời”, bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân sở hữu.
Ở đây NNL đƣợc coi nhƣ là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhƣ vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Đầu tƣ cho con ngƣời giữ một vị trí trung tâm trong các loại đầu tƣ và đƣợc coi là cơ sở không thể thiếu cho sự phát triển bền vững [31]. - Khái niệm NNL của Tổ chức Hợp tác và phát triển của Liên Hiệp Quốc (OECD): NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của đất nƣớc, là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc tạo ra, khai thác và không ngừng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội [50]. - Theo Chƣơng trình khoa học công nghệ cấp nhà nƣớc KX-07, “Con ngƣời Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội”, GS.TS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm, thì NNL đƣợc hiểu là dân số và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc [18]. Từ những quan điểm trên có thể thấy rằng NNL đƣợc đề cập nhƣ một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống các yếu tố hợp thành: Sức lực và trí tuệ, số lƣợng cùng với các đặc trƣng về chất lƣợng lao động nhƣ trình độ học vấn, trình độ chuyên môn 9 Luan van kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc…, ở đây nhân tố con ngƣời đƣợc xem xét với tƣ cách là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là một nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế xã hội.
Con ngƣời - NNL là vốn của mọi nguồn vốn khác. Nhƣ vậy, có thể hiểu NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của con ngƣời trong một cộng đồng dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho cộng đồng hay cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ góc độ quản lý kinh tế có thể hiểu: NNL là nguồn lực con ngƣời, là nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ, một lĩnh vực, một ngành kinh tế hay của một địa phƣơng; là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Đồng thời NNL cũng đƣợc hiểu là nguồn lao động hay nguồn lực xã hội. Từ cách tiếp cận trên, có thể khái niệm chung về NNL nhƣ sau: NNL là tổng hợp tiềm năng lao động của con ngƣời trong một quốc gia, một vùng, một khu vực, một địa phƣơng trong một thời điểm cụ thể nhất định; tiềm năng của NNL bao gồm: trí lực, tâm lực, thể lực; NNL bao giờ cũng tồn tại dƣới dạng một số lƣợng và tƣơng thích với lƣợng đó là một chất lƣợng và một cơ cấu nhất định. Và với khái niệm NNL chung nêu trên, NNL BHXH tỉnh An Giang đƣợc khái niệm nhƣ sau: “NNL BHXH tỉnh An Giang là tổng hợp tiềm năng lao động của con người tại BHXH tỉnh An Giang trong một thời điểm cụ thể nhất định, bao gồm trí lực, tâm lực, thể lực của cán bộ, công chức BHXH tỉnh An Giang tồn tại dưới dạng một số lượng có chất lượng và cơ cấu tương thích với số lượng đó. Những vấn đề chung về nguồn nhân lực 1.
Nguồn nhân lực theo cấu trúc NNL có cấu trúc nội tại của nó bao gồm số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu NNL: Số lượng NNL: Là sự biểu đạt về quy mô của NNL đó. Nó phản ánh mức độ lớn nhỏ của NNL. Số lƣợng đó đáp ứng yêu cầu cụ thể phát triển của một lĩnh vực, 10 Luan van một ngành nào đó, giúp cho các chủ thể quản lý NNL tìm cách làm gia tăng hoặc thu hẹp NNL đó. Chất lượng NNL: Là thuật ngữ dùng để chỉ khái niệm tổng hợp thể hiện giữa các yếu tố cấu thành bên trong của NNL đƣợc biểu hiện qua những thông số đặc trƣng về trạng thái trí lực, tâm lực và thể lực tạo nên NNL đó.
Trong đó, thông số trí lực bao gồm trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, khả năng tƣ duy xét đoán giải quyết các vấn đề trong thực tiễn của mỗi cá nhân tạo nên NNL. Thông số tâm lực phản ánh phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, tình cảm, lý trí, thói quen, quan niệm về thế giới, về nhân sinh quan và khả năng hòa nhập cộng đồng, khả năng ứng xử theo nhóm. chất lƣợng NNL phản ánh giá trị xã hội của một NNL nhất định. Cơ cấu NNL: Là sự phân chia NNL ở các bộ phận có những khả năng, chuyên môn, sức khỏe, hoặc độ tuổi.
khác nhau trong một NNL cụ thể. Cơ cấu tồn tại cả ở mặt số lƣợng, cả mặt chất lƣợng NNL hợp lý phù hợp với yêu cầu thực tiễn sẽ cho phép phát huy tối đa vai trò, tiềm năng thế mạnh của một NNL cụ thể. Đặc điểm nguồn nhân lực Bảo hiểm xã hội Nguồn nhân lực BHXH là một bộ phận cấu thành của NNL xã hội. Đây là lực lƣợng làm việc trong ngành BHXH bao gồm: NNL tại các cơ quan chức năng của BHXH Việt Nam; NNL tại các cơ quan BHXH ở các địa phƣơng.
Do tính chất đặc thù về tính chất công việc của ngành BHXH và tính chất công việc của các bộ phận cấu thành NNL BHXH theo quy định của pháp luật. Do đó, NNL BHXH Việt Nam bao gồm những ngƣời công tác chuyên môn về BHXH nhƣ: những ngƣời làm công tác quản lý và cán bộ công chức làm việc trong ngành BHXH tại các cơ quan của BHXH Việt Nam và ở các địa phƣơng; những ngƣời làm công tác nghiên cứu khoa học về BHXH - tức là những cán bộ, công chức và một bộ phận đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng tại các trƣờng chuyên môn nghiệp vụ của bảo hiểm. Không tính những ngƣời làm công tác tạp vụ, lao động phổ thông. Nhƣ vậy, NNL BHXH bao gồm những ngƣời đang trực tiếp làm việc và những bộ phận chuẩn bị về mọi mặt để bổ sung cho ngành BHXH.
11 Luan van Đặc điểm NNL BHXH chi phối bởi các Nghị định của chính phủ và Quy định của ngành. Theo quy định hiện hành [34], [41], cán bộ, công chức trong ngành BHXH có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rất rộng, phức tạp và có liên quan đến nhiều ngành trong thực thi nhiệm vụ. Vì vậy, đòi hỏi ở họ một chất lƣợng nhân lực khá cao và hết sức chặt chẽ, có thể khái quát đặc điểm NNL BHXH ở một số nét đặc thù sau: Một là, nhân lực BHXH có yêu cầu cao về tính chuyên môn nghiệp vụ, đòi hỏi phải được đào tạo và bồi dưỡng kỹ lưỡng. BHXH Việt Nam có chức năng, vai trò rộng lớn đƣợc pháp luật quy định [34].
Vì vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, viên chức ngành BHXH phải tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc liên quan đến công việc đảm nhiệm và giải quyết hài hòa các mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan liên ngành trong xử lý giải quyết các nhiệm vụ. Nếu họ không đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng kỹ lƣỡng thì khó hoàn thành có chất lƣợng và hiệu quả các công việc đƣợc giao. Hai là, do chức năng, nhiệm vụ được giao và hoạt động trong điều kiện tác động của cơ chế thị trường, mọi cán bộ, công chức trong ngành phải được giáo dục kỹ lưỡng và thường xuyên về phẩm chất nhân cách, phương pháp tác phong công tác. Các hoạt động của BHXH có liên quan trực tiếp đến lợi ích và chế độ, chính sách của các đối tƣợng hƣởng bảo hiểm [34], [41].
Cán bộ, công chức ngành BHXH thƣờng xuyên có mối quan hệ chặt chẽ với tiền, dễ bị chi phối bởi lợi ích riêng làm phƣơng hại đến lợi ích chung và lợi ích của đối tƣợng đƣợc hƣởng bảo hiểm. Do vậy, mọi cán bộ, công chức trong ngành BHXH nếu không đƣợc giáo dục, rèn luyện kỹ lƣỡng và thƣờng xuyên về phẩm chất nhân cách, thái độ phục vụ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của ngành thì không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao. Sự cần thiết phát triển NNL BHXH Quan điểm của Đảng ta về vị trí vai trò của NNL đối với phát triển kinh tế - xã hội, CNH, HĐH đất nƣớc, cho thấy NNL có vai trò rất to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của nƣớc ta nói chung và đối với ngành BHXH nói riêng. Vì vậy, phát triển NNL BHXH là hết sức cần thiết đƣợc biểu hiện qua các vai trò sau: 12 Luan van Phát triển NNL đóng vai trò quyết định đến sự hoàn thành nhiệm vụ của ngành BHXH.
Phát triển NNL là một tất yếu khách quan, là xu thế phát triển của thời đại, là yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá, là sự cần thiết khách quan đối với đất nƣớc nói chung và đối với các cơ quan đơn vị nói riêng.