phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1 - Một số vấn đề cơ sở lý luận chung về đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Chƣơng 2 - Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3 - Thực trạng đào tạo phát triển nguồn nhân lực của PVcomBank. Chƣơng 4 - Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực tại PVcomBank.
6 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm, đặc điểm và phân loại nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nƣớc ta, tuy nhiên hiện nay quan niệm này chƣa đƣợc thống nhất. Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm nhƣ sau: - Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về trí tuệ, sức lực của mọi cá nhân trong tổ chức với bất kể vai trò của họ là gì. - Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Khác với quan niệm trên, vấn đề ở đây đƣợc xem xét dƣới trạng thái động. - Có quan niệm cho rằng, khi đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh trình độ chuyên môn và kỹ năng của ngƣời lao động, ít đề cập một cách đầy đủ và rõ ràng đến những đặc trƣng khác nhƣ thể lực, yếu tố tâm lý - tinh thần… - Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng sẵn sàng tham gia một công việc nào đó. - Nguồn nhân lực là nguồn lực của con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này của nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển chung của tổ chức.
- Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tổ bên trong và yếu tố bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. 7 z Nhƣ vậy có thể thấy rằng nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động) gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định.2 Phân loại nguồn nhân lực Tuỳ theo góc độ nghiên cứu mà có thể phân chia nguồn nhân lực nhƣ sau: * Căn cứ vào nguồn gốc hình thành: - Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số: Bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động. - Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế: Đây là số ngƣời có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân. - Nguồn nhân lực dự trữ: Nguồn nhân lực này bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động nhƣng vì những lý do khác nhau chƣa tham gia hoạt động kinh tế song khi cần có thể hoạt động đƣợc.
* Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực: - Nguồn lao động chính: Đây là bộ phận nguồn nhân lực nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và là nguồn lao động chính. - Nguồn lao động phụ: Đây là bộ phận dân cƣ nằm ngoài độ tuổi lao động có thể và cần tham gia vào nền sản xuất xã hội đặc biệt ở các nƣớc kém phát triển. - Nguồn lao động bổ sung: Là bộ phận nguồn nhân lực đƣợc bổ sung từ các nguồn khác (số ngƣời hết hạn nghĩa vụ quân sự, số ngƣời ở nƣớc ngoài trở về…).3 Đặc trưng cơ bản nguồn nhân lực * Đặc trưng về sinh học: Theo quan điểm của triết học Mác - Lê Nin, hoạt động của con ngƣời chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua các hoạt động này con ngƣời cải tạo chính bản thân mình và làm cho con ngƣời ngày càng hoàn thiện. Do vậy chính những hoạt động này làm biến đổi mặt sinh học của con ngƣời và làm cho nó có tính chất xã hội và cũng hoạt động thực tiễn ấy đã làm cho nhu cầu sinh vật của con ngƣời thành nhu cầu xã hội.
Ăng ghen đã nói “Lao 8 z động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài ngƣời”, do vậy ở một góc nhìn nào đó lao động sáng tạo ra bản thân con ngƣời. * Đặc trưng về số lượng: Đƣợc xác định dựa trên quy mô, cơ cấu độ tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ. * Đặc trưng về chất lượng: Chất lƣợng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tƣ cách vừa là khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trƣng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con ngƣời.
Do vậy chất lƣợng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trƣng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực: trạng thái sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… 1.4 Khái niệm về đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp * Khái niệm đào tạo con người: Đào tạo con ngƣời là quá trình nâng cao năng lực của con ngƣời về mặt thể lực, trí lực, tâm lực đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực của nguồn nhân lực để phát triển doanh nghiệp. * Khái niệm về đào tạo phát triển nguồn nhân lực: Trong thực tế hiện nay các khái niệm giáo dục, đào tạo phát triển đều đề cập đến một quá trình tƣơng tự: quá trình cho phép con ngƣời tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi, thông qua đó sẽ nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Điều đó cũng có nghĩa là giáo dục, đào tạo phát triển có mối liên hệ mật thiết và đƣợc áp dụng để làm thay đổi việc nhân viên biết gì, làm nhƣ nào và quan điểm của họ đối với công việc, hoặc mối quan hệ với các đồng nghiệp và các nhà quản lý. - Đào tạo (hay còn đƣợc gọi là đào tạo kỹ năng), đƣợc hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức 9 z năng, nhiệm vụ của mình.
Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn. - Giáo dục: Là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con ngƣời bƣớc vào một nghề nghiệp mới thích hợp trong tƣơng lai. - Phát triển: là hoạt động học tập vƣợt ra khỏi phạm vi công việc trƣớc mắt, liên quan tới việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hơn hoặc mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hƣớng tƣơng lai của tổ chức. Ba bộ phận đào tạo, giáo dục, phát triển hình thành việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực.
Đào tạo phát triển nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển tiềm năng của con ngƣời. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực không chỉ đào tạo nội bộ đƣợc thực hiện bên trong một doanh nghiệp, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác đƣợc thực hiện từ bên ngoài nhƣ: đào tạo sau đại học, ngoại ngữ, bồi dƣỡng và nâng cao các kỹ năng, nâng cao nghiệp vụ, học tập và trao đổi kinh nghiệm, đào tạo chuyên sâu, chuyên đề, đào tạo tại nƣớc ngoài… Hiện nay các doanh nghiệp đã chú trọng việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực vì những lý do và tác dụng sau đây: - Để chuẩn bị và bù đắp vào những chỗ bị thiếu, bị bỏ trống. Sự bù đắp và bổ sung này diễn ra thƣờng xuyên nhằm làm cho doanh nghiệp hoạt động trôi chảy. - Để chuẩn bị cho những ngƣời lao động thực hiện đƣợc những trách nhiệm và nhiệm vụ mới do có sự thay đổi trong mục tiêu: cơ cấu, thay đổi về luật pháp, chính sách và kỹ thuật công nghệ mới tạo ra.
- Để hoàn thiện khả năng ngƣời lao động (nhiệm vụ hiện tại cũng nhƣ nhiệm vụ tƣơng lai một cách có hiệu quả). Tác dụng của đào tạo phát triển nguồn nhân lực còn là: 10 z - Giảm bớt đƣợc sự giám sát, vì đối với ngƣời lao động đƣợc đào tạo, họ là ngƣời có thể tự giám sát; - Giảm bớt những tai nạn, do những hạn chế của con ngƣời hơn là do những hạn chế của trang bị; - Sự ổn định và năng động của doanh nghiệp đƣợc tăng lên, vì chúng đƣợc bảo đảm có hiệu quả ngay cả khi thiếu những ngƣời chủ chốt do có nguồn nhân lực dự trữ để thay thế.2 Phƣơng pháp đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đào tạo phát triển nguồn nhân lực đƣợc coi là chiến lƣợc quan trọng của mọi doanh nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển. Căn cứ vào chiến lƣợc kinh doanh, chiến lƣợc đào tạo phát triển nguồn nhân lực và khả năng tài chính, mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình một hình thức đào tạo phù hợp. Về cơ bản, đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đƣợc tiến hành qua 3 hình thức đào tạo chính: Đào tạo tập trung, Đào tạo trực tuyến và Đào tạo kết hợp.
Bên cạnh những thế mạnh, trong mỗi hình thức đào tạo cũng tồn tại những mặt hạn chế của nó.1 Đào tạo tập trung: Đây là mô hình đào tạo đang đƣợc áp dụng phổ biến và quen thuộc đối với các doanh nghiệp hiện nay.