MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận văn Con người là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất quyết định sự tồn tại, phát triển cũng như vị thế của quốc gia, một đơn vị, một tổ chức. Trong những năm qua, chủ trương phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ (KHCN) nói chung, nhân lực KHCN trong lĩnh vực Năng lượng nguyên tử (NLNT) nói riêng đã được đề cập tại nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Gần đây, chủ trương này cũng đã được khẳng định trong Quyết định 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 về phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử” [32], “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1855/QĐ-TTg [30] và Nghị quyết số 02-NQ/HNTW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về “Định hướng chiến lược phát triển KH-CN trong thời kỳ CNH, HĐH” [11].
Điều đó cho thấy, Nhà nước ta đang thúc đẩy việc xây dựng kế hoạch, định hướng và giải pháp để phát triển đội ngũ nhân lực KHCN, trong đó chú trọng đến nhân lực KHCN lĩnh vực NLNT. Trong lĩnh vực NLNT, với đặc thù cơ bản của nguồn nhân lực KHCN là trình độ cao, lĩnh vực chuyên môn hẹp nhưng sâu, cần nhiều thời gian để đào tạo mới có khả năng sử dụng, môi trường làm việc đặc thù. Đó là những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến mục tiêu phát triển nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực NLNT. Trong từng giai đoạn nhất định, phát triển nguồn nhân lực KHCN thường gắn với mục tiêu phát triển cụ thể của lĩnh vực, như mục tiêu phát triển thành công chương trình điện hạt nhân, mục tiêu xây dựng nhà máy điện hạt nhân trong tương lai gần ở Việt Nam.
Để xây dựng một đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao phục vụ cho mục tiêu ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích 1 hòa bình cụ thể là phát triển các ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong đời sống và hơn cả là phát triển thành công chương trình điện hạt nhân và xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam, một trong những việc cấp thiết cần làm là nghiên cứu đề xuất giải pháp, định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KHCN, trong đó có giải pháp đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc cũng như chuyên môn sâu cho từng cán bộ, từng tổ chức, đơn vị. Trong thực tiễn những năm qua, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đã được chú trọng quan tâm và được khẳng định tại các văn bản, chủ trương của Nhà nước: - Luật Năng lượng nguyên tử (2008) [24] quy định về các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; - Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử” [32]. - Quyết định số 940/QĐ-TTg ngày 17/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử [33]. Nghiên cứu tìm hiểu các giải pháp phát triển nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực NLNT để thực hiện thành công các mục tiêu trên là một việc làm cấp thiết.
Trong đó, một trong những giải pháp cụ thể phát triển nguồn nhân lực là áp dụng một mô hình đào tạo có hệ thống mang lại lợi ích to lớn đối với xã hội, tổ chức, đơn vị cũng như lợi ích đến từng cá nhân. Tác giả đang công tác tại Viện Nghiên cứu hạt nhân chịu sự quản lý của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Đây là một trong những cơ quan đầu đàn về khoa học công nghệ; đặc biệt là ứng dụng năng lượng nguyên tử vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Với đặc thù là cơ quan nghiên cứu khoa học, việc phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ luôn là ưu tiên hàng đầu 2 của Viện.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ năng lượng nguyên tử tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam” làm cơ sở nghiên cứu của luận văn. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn - Tình hình trong nước Nhận thức rõ vai trò của khoa học công nghệ đối với đời sống kinh tế xã hội và sự tồn vong của đất nước, trong Hiến pháp 2013 xác định “Phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước”. Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học công nghệ và khẳng định … Cùng với giáo dục, đào tạo khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học công nghệ … sẽ nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người.
Nghiên cứu về những vấn đề phát triển nguồn nhân lực KHCN nói chung và phát triển nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử nói riêng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Sự chuyển đổi từ nền kinh tế mang tính kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước đã ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến các hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D). Nó đề ra những đòi hỏi mới trong hoạt động quản lý KHCN nói chung và quản lý nguồn nhân lực KHCN nói riêng. Hoạt động QLNN trong lĩnh vực NLNT gần đây mới trở thành một vấn đề thời sự, mang tính cấp bách từ khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư Dự án ĐHN Ninh Thuận.
Một số cơ quan chuyên về QLNN trong lĩnh vực 3 NLNT mới được thành lập một vài năm trở lại đây. Phần lớn cán bộ được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan QLNN là cán bộ trẻ, ngành nghề đào tạo chưa thật phù hợp với yêu cầu, chưa có kinh nghiệm trong công tác quản lý. Từ những thực tế đó cho thấy, sự thiếu hụt về nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực NLNT cả về số lượng lẫn chất lượng. Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam tuy là tiền thân của ngành NLNT nhưng cũng không tránh khỏi những khó khăn đó.
Trong thời gian qua, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cũng đã có những hoạt động nhằm phát triển nguồn nhân lực KHCN của đơn vị như: - Xây dựng giáo trình đào tạo chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, chương trình đào tạo, bồi dưỡng về hạt nhân cho nguồn nhân lực các ngành liên quan. - Xây dựng các chương trình thực tập ngắn và dài hạn cho nhóm cán bộ chuyên môn theo từng lĩnh vực cụ thể. - Cử các nhà khoa học trẻ tham dự các khoá đào tạo chuyên môn ngắn hạn, dài hạn ở nước ngoài. - Tổ chức Hội nghị KH&CN hạt nhân toàn quốc (2 năm/lần) tạo cơ hội cho các nhà khoa học được trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm,.
Ngoài những thành tựu trên thực trạng hiện nay đáng quan tâm là sự thiếu hụt các chuyên gia đầu ngành, các nhóm nghiên cứu mũi nhọn. Theo ý kiến của một số chuyên gia cho rằng đây là một thách thức không nhỏ cho sự nghiệp phát triển nghiên cứu khoa học công nghệ ở Việt Nam nói chung, Viện NLNT VN nói riêng. Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, số biên chế khoảng hơn 550 cán bộ, mỗi năm chỉ tuyển thêm vài nhân sự mới để bổ sung vào “chỗ trống” do người cũ về hưu trong khi tình hình phát triển hiện nay luôn đòi hỏi nhiều nhân sự mới vẫn chưa được triển khai. Đó là sự thiếu hụt các chuyên gia trẻ 4 trong khi đội ngũ chuyên gia của Viện ngày càng già đi.
Và cũng vì chế độ đãi ngộ hạn chế và mức lương thấp, mặc dù nhà nước đã có chính sách tăng ưu đãi tối đa 0,7 cho các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực hạt nhân, nhưng vẫn thấp so với các công ty nước ngoài hoặc liên doanh dẫn đến rất khó thu hút được những tài năng trẻ. Luận văn này tập trung nghiên cứu vào hoạt động quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng, số lượng nguồn lực khoa học công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử vì vậy tác giả đã nghiên cứu, tham khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu có tên sau: - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013); - Nghị quyết số 02-NQ/HNTW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Định hướng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; - Nguyễn Thị Yên Ninh (2011), Nghiên cứu thực tiễn trong nước, quốc tế và đề xuất giải pháp kiện toàn, tăng cường quản lý nhà nước về phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử, Báo cáo tổng kết Đề án nghiên cứu cấp Bộ “Nghiên cứu thực tiễn trong nước và quốc tế và đề xuất giải pháp kiện toàn và tăng cường quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử”, Cục Năng lượng nguyên tử, Hà Nội. - Phạm Thị Bảo Thoa (2013), Phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội. - Nguyễn Chín (2011), Các giải pháp thu hút nguồn nhân lực trình độ cao cho các cơ quan nhà nước ở tỉnh Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
5 - Nguyễn Ngọc Ánh (2009), Tăng cường quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực khoa học, công nghệ tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội. - Phạm Thị Hiếu (2010), Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong các đơn vị sự nghiệp khoa học công lập ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội.