CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHÁT TRIEN NGUON LUC THONG TIN SO TẠI THU VIEN TRUONG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nguồn lực thông tin số 1.1 Một số khái niệm liên quan đến phát triển nguôn lực thông tin số Mỗi khi nhắc đến thư viện, điều đầu tiên người ta thường nghĩ đến là tài liệu, vốn tài liệu của thư viện. Vậy tài liệu, vốn tài liệu của thư viện là gì? Theo pháp lệnh Thư viện năm 2000: “Tài liệu là một dạng vật chất đã ghi nhận những thông tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh nhằm mục đích bảo quản và sử dụng” còn “Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu tầm, tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện dé tổ chức phục vụ người đọc đạt hiệu qua cao và được bao quản” [33, tr. Nếu như trước đây thư viện chủ yếu chỉ có tài liệu ghi trên giấy (gọi chung là tài liệu truyền thống) thì ngày nay xuất hiện ngày càng nhiều tài liệu ghi trên các vật mang tin khác nhau như: băng từ, đĩa từ, CD-ROM, vi phim, vi phiếu, bộ nhớ máy tính, cơ sở dữ liệu (CSDL),. Từ đó cũng xuất hiện nhiều thuật ngữ, khái niệm mới như: tài liệu điện tử, tài liệu số, thư viện điện tử, thư viện số, bộ sưu tập số, CSDL, NLTT điện tử, NLTTS.
Vậy thông tin điện tử, thông tin số là gi? Muốn biết thông tin điện tử, thông tin số là gì trước hết ta phải hiểu thdng tin là gì? Trong cuốn “Thông tin học” Đoàn Phân Tân đã định nghĩa thông tin theo hai quan điểm: Theo quan điểm triết học: “thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh, v.hay nói rộng hơn băng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người” [37, tr.14]; Theo nghĩa hiểu thông thường: “thông tin là tất cả sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người” [37, tr. Nói tóm lại “thông tin là cái giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của các sự vật, hiện tượng” [35, tr. 17 “Các thông tin này được lưu giữ trên các vật mang tin khác nhau mà những người làm công tác thư viện vẫn quen gọi là tài liệu” [41, tr. - Khái niệm “thông tin điện tử”: thông tin điện tử là thông tin được tạo ra, được lưu trữ và được phô biến bằng các phương tiện điện tử (là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự) [42, tr.12] - Khái niệm “?hông tin số: thông tin số là thông tin được biểu diễn dưới dạng kỹ thuật số, được xử lý, lưu trữ và truy cập trên máy tính, mạng máy tính hay các thiết bị hiện đại khác.
- Khái niệm “tdi liệu điện tử”: theo định nghĩa của Lưu trữ Quốc gia Mỹ, tài liệu điện tử là tài liệu chứa đựng thông tin số, biểu đồ và thông tin dạng văn bản có thể ghi lại trên bất kỳ vật mang bang máy nào (nghĩa là chứa thông tin được ghi lại ở dang chỉ có thé xử lý khi có sự trợ giúp của máy tính) [7, tr.9] - Khái niệm “tdi liéu số”: Tài liệu số được hiểu là tài liệu chứa các thông tin được biểu diễn dưới dạng kỹ thuật số, được xử lý, lưu trữ và truy cập, phố biến trên máy tính, mạng máy tính và các thiết bị hiện đại khác. Như vậy có thé thấy, khái niệm tài liệu điện tử và tài liệu số là đồng nhất với nhau. Điều này cũng đã được tác giả Phạm Văn Rính, Nguyễn Viết Nghia khang định trong cuốn “Phát triển von tài liệu trong thư viện và cơ quan thông tin”: “khái niệm tài liệu điện tử (electronic document) và tài liệu số hóa (digital document) được dùng dé chi cùng một đối tượng là thông tin ghi trên các vật mang tin điện tử. Hai khái niêm này đồng nhất về mặt ngữ nghĩa”.
Trong luận văn này, tác giả thống nhất dùng khái niệm tài liệu só. - Khái niệm “the viện điện tw”: thư viện điện tử “là một khái niệm chưa được định nghĩa thống nhất và còn nhiều tranh luận, đôi khi dùng lẫn lộn và đồng nghĩa với các khái nệm “Thư viện không biên giới”, “Thu viện được nối mạng”, “Thư viện SỐ”, “Thu viện ảo”, “Thư viện tin học hóa”, “Thu viện đa phương tiện”, “Thư viện lôgích”, 18 “Thư viện văn phòng”,. Dù được định nghĩa khác nhau nhưng có thé hiểu theo nghĩa chung nhất: “thư viện điện tử” là loại hình thư viện đã được tin học hóa toàn bộ hoặc một phần hoạt động của mình; ở đó người sử dụng có thé tới dé thực hiện những công việc mà họ vẫn thường làm với thư viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa; và các phương tiện điện tử được sử dụng trong thu thập, lưu trữ, xử lý, tìm kiếm và phổ biến thông tin; vốn tài liệu của thư viện điện tử bao gồm cả tài liệu truyền thống và tài liệu điện tử. - Khái niệm “thw viện số”: đến nay van tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thư viện số: có ý kiến cho rằng thư viện số là một bước tiễn xa hơn của thư viện điện tử, là thư viện điện tử cấp cao; có ý kiến cho rằng thư viện điện tử bao hàm thư viện số; có ý kiến lại cho rằng thư viện số và thư viện điện tử là một.
Qua các định nghĩa khác nhau có thé hiểu khái quát: thư viện số là thư viện có các bộ sưu tập số được quản trị, truy cập và khai thác thông qua hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông. - Khái niệm “bó sưu tập số”: bộ sưu tập số là một tập hợp có tổ chức các tài liệu số theo một chủ đề nhất định. Các tài liệu số này có thể được thê hiện đưới nhiều định dạng khác nhau như: văn bản, hình ảnh, âm thanh, video,. nhưng đều có thé truy cập qua một giao diện đồng nhất qua đó người dùng tin có thể truy cập, tìm kiếm dễ dàng thông qua máy tính, mạng máy tính hay các thiết bị hiện đại khác.
- Khái nệm “cơ sở di liệu”: CSDL là một tập hợp các dữ liệu có cấu trúc và liên quan với nhau, được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ thông tin thứ cấp (băng từ, đĩa từ, CD-ROM, bộ nhớ máy tính.) và được tô chức theo một mô hình nhất định nhằm thỏa mãn yêu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều người sử dụng cùng một lúc. - Khái niệm “nguồn lực thông tin” (information resources): đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau. Theo nghĩa rộng, NLTT được coi là mọi tiềm lực của một cơ quan TT - TV, bao gồm vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng CNTT và đội ngũ cán bộ nhằm đảm bảo cho hoạt động TT - 19 TV của cơ quan/tô chức đó. Theo nghĩa hẹp, NLTT được hiểu tương đương với vốn tài liệu của thư viện, là tổ hợp tất cả các loại hình tài liệu, dữ liệu của cơ quan TT - TV được tô chức, bảo quan và phô biến nhằm đáp ứng nhu cầu của NDT.
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm NLTT theo hướng nghĩa hẹp. Tương tự như vậy, tác giả luận văn cho răng: “nguồn lực thông tin số” (digital information resources) là tập hop tat cả các loại hình tài liệu, dữ liệu dưới dạng số của cơ quan TT - TV được tổ chức, bảo quản và pho biến thông qua máy tính, mạng máy tính hoặc các thiết bị hiện đại khác nhằm đáp ứng NCT cua NDT. - Khái niệm “phát triển nguồn lực thông tin số”: Theo quan điểm triết học, phát triển là một thuộc tính phô biến của vật chất, là quá trình vận động tiến lên từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật hiện tượng. Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển là “biến đôi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp, làm cho tốt hơn lên.
Như vậy, theo tác giả luận văn: Phát triển NLTTS là quá trình làm cho NLTTS biến đổi, tăng trưởng cả về lượng và chất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin trong một khoảng thời gian nhất định.2 Đặc trưng của nguồn lực thông tin số Ngoài những đặc điểm chung vốn có của NLTT truyền thống, NLTTS còn mang những đặc trưng nổi bật sau đây: - NLTTS phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức NLTTS có nội dung rất phong phú với khả năng trình bày thông tin đa dạng: văn bản, hình ảnh, âm thanh, video,.nên rất hấp dẫn, sinh động, dễ hiểu và dé tiếp nhận. Về mặt hình thức, NLTTS tôn tại ở nhiều dạng thức khác nhau như: sách điện tử (e-book), báo - tạp chí điện tử (e-journal), luận văn - luận án, bài giảng điện tử, CSDL,. 20 - NUFTS có mật độ thông tin cao, khả năng lưu trữ lớn Do những tiến bộ của ngành CNTT, đặc biệt là công nghệ nén và lưu trữ thông tin trên các vật mang tin từ tính, quang học, kỹ thuật số,. nên mật độ thông tin ghi trên các vật mang tin này rất cao, do đó dung lượng thông tin lưu trữ trên chúng cũng rất lớn.
- NLTTS có khả năng đa truy cập Một là, khả năng tra tìm thông tin đồng thời theo nhiều dấu hiệu khác nhau như tìm theo các yếu tố mô tả thư mục thông thường (nhan đề, tác giả, năm xuất bản, từ khóa,.) bằng việc kết hợp các toán tử Bool, các toán tử thu gọn hoặc tìm theo liên kết tỚI các nguồn tài liệu tham khảo, trích dẫn. Hai là, khả năng truy cập từ xa trong mọi điều kiện không gian, thời gian. Ba là, khả năng cho phép đồng thời nhiều người cùng sử dụng một tài liệu trong cùng một thời điểm. - NLTTS tạo khả năng cho NDT có thể liên hệ, tiếp cận với tác giả hoặc người tô chức nguồn tin, tạo ra một kênh thông tin phản hồi giữa người dùng tin và người sáng tạo ra thông tin.
Với những tién bộ của công nghệ web, người ta có thé tạo ra các đường siêu liên kết (hyperlink) tới địa chỉ thư điện tử của tác giả, tới các bài viết của cùng tác giả, tới các bài viết về cùng chủ đề của nhiều tác giả khác ngay trong tài liệu hoặc tới các nguồn thông tin khác ngoài văn bản hiện thời như các nguồn tham khảo, trích dan,.