Chương 1 : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI LÃI SUẤT.1 Khái quát về thị trường các công cụ tài chính phái sinh: 1.1 Giới thiệu các công cụ tài chính phái sinh: Hợp đồng kỳ hạn : Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận mua bán một loại tài sản ở một thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức giá nhất định. Hợp đồng kỳ hạn không trao đổi trên thị trường, đây là những thỏa thuận cá nhân (qua OTC) giữa hai tổ chức tài chính hoặc giữa một tổ chức tài chính và khách hàng là công ty. Một bên của hợp đồng chuyển giao ở vị thế dài hạn và đồng ý mua tài sản với mức giá xác định vào một ngày cụ thể. Bên kia ở vị thế ngắn hạn và đồng ý bán tài sản vào cùng một ngày với cùng mức giá.
Ngày giao hàng của hợp đồng có thể là bất kỳ ngày nào thuận tiện cho hai bên. Thông thường, đối với hợp đồng kỳ hạn, ngày chuyển giao được xác định riêng biệt theo từng hợp đồng. Hợp đồng giao sau : Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận để mua hoặc bán một tài sản vào một thời điểm chắc chắn trong tương lai với một mức giá xác định (Thị trường future và option). Hợp đồng quyền chọn : Hợp đồng quyền chọn được trao đổi trên thị trường với thời hạn ngắn hơn trong hợp đồng giao sau.
Tuy nhiên, hợp đồng này khá phổ biến đối với các nhà đầu tư. Có hai kiểu hợp đồng quyền chọn cơ bản : Call (chọn mua) và Put (chọn bán). Một quyền chọn mua trao cho người mua quyền mua một tài sản vào một ngày xác định với một giá nhất định. Tương tự, một quyền chọn bán trao cho người mua quyền bán một tài sản vào một ngày xác định với một giá nhất định.
Giá cả của hợp đồng được biết là giá thực hiện, ngày thực hiện hợp đồng là ngày đáo hạn. Option Châu Âu chỉ được thực hiện vào ngày đáo hạn, Option của Mỹ có thể thực hiện vào bất kỳ thời gian nào trước ngày đáo hạn. 5 Có thể nhấn mạnh là hợp đồng quyền chọn trao cho người giữ nó một quyền để thực hiện. Người nắm giữ không nhất thiết phải thực hiện quyền này.
Điều đó phân biệt hợp đồng quyền chọn với hợp đồng giao sau. Người nắm giữ hợp đồng giao sau dài hạn được quyền mua tài sản với giá nhất định vào một thời điểm xác định trong tương lai. Ngược lại, người mua hợp đồng quyền chọn có quyền lựa chọn mua (hay không mua) tài sản với giá nhất định vào thời điểm xác định trong tương lai. Người ta không phải tốn chi phí (ngoại trừ tiền ký quỹ theo yêu cầu) khi tham gia hợp đồng giao sau, nhưng đối với hợp đồng quyền chọn, nhà đầu tư phải trả trước tiền lệ phí hay còn gọi là giá của hợp đồng quyền chọn.
Hợp đồng hoán đổi: Hợp đồng hoán đổi là thoả thuận bao gồm hai bên giao dịch thực hiện một chuỗi các thanh toán cho bên còn lại vào những ngày cụ thể.2 Vai trò của thị trường các công cụ tài chính phái sinh: Quản trị rủi ro : Giá của sản phẩm phái sinh có quan hệ với giá của hàng hoá cơ sở trên thị trường giao ngay, các sản phẩm phái sinh có thể được sử dụng để làm giảm hay gia tăng rủi ro của việc sở hữu tài sản giao ngay. Ví dụ một nhà đầu tư có thể mua một tài sản giao ngay và tiến hành ký hợp đồng bán giao sau hay bán một quyền chọn mua sẽ giúp làm giảm rủi ro cho việc nắm giữ tài sản. Thị trường sản phẩm phái sinh vì lẽ đó cho phép những người muốn làm giảm rủi ro của mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là các nhà đầu cơ. Vì lợi ích rằng thị trường này rất hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư nên các nhà đầu tư sẵn lòng cung cấp vốn nhiều hơn cho thị trường tài chính, đồng thời cũng tạo ra nhiều lợi ích cho nền kinh tế.
Thông tin hiệu quả hình thành giá : Các thị trường kỳ hạn và giao sau là nơi cung cấp thông tin rất quan trọng về giá cả. Đặc biệt, thị trường giao sau được xem như một công cụ chủ yếu để xác định giá giao ngay của tài sản. Giá hợp đồng giao sau và kỳ hạn cũng chứa đựng những thông tin về những gì mà người ta mong đợi về giá giao 6 ngay trong tương lai. Do đó, thị trường giao ngay và kỳ hạn cung cấp những thông tin hiệu quả để hình thành giá.
Các lợi thế về hoạt động : Chi phí giao dịch thấp hơn. Có tính thanh khoản cao hơn. Cho phép nhà đầu tư bán khống dễ dàng. Thị trường hiệu quả : Thị trường giao ngay vẫn có thể hiệu quả ngay cả khi không có thị trường các sản phẩm phái sinh.
Tuy nhiên, thị trường sản phẩm phái sinh vẫn cho phép tìm kiếm không ít các cơ hội kinh doanh chênh lệch lãi suất, tỷ giá và đem lại lợi nhuận.2 Khái niệm về hoán đổi : 1.1 Khái niệm : Như đã trình bày ở những phần trên, trong thị trường tài chính phái sinh có rất nhiều công cụ tài chính với tính phổ biến lần lượt là giao dịch quyền chọn, hợp đồng tương lai và nghiệp vụ hoán đổi. Một công ty có thể hoán đổi dòng tiền cho các công ty khác. Ví dụ, khi công ty đang có một khoản vay với lãi suất cố định, cùng lúc một công ty khác có thể đang chịu một khoản vay với lãi suất thay đổi, và các bên đều mong muốn có được vị thế như của bên kia. Thay vì hủy bỏ các khoản vay đang có (nếu có thể, sẽ tốn chi phí khá lớn) thì hai bên sẽ thỏa thuận hoán đổi dòng tiền : công ty thứ nhất sẽ chi trả khoản vay dựa trên lãi suất thả nổi cho công ty thứ hai và ngược lại công ty thứ hai sẽ có dòng tiền trả nợ vay dựa trên lãi suất cố định.
Với hoạt động này, mỗi bên đã chuyển đổi được hình thái nợ cho nhau. Từ đó ta có thể định nghĩa : “Hoán đổi là một sản phẩm phái sinh tài chính bao gồm hai bên giao dịch thực hiện một chuỗi các thanh toán cho bên còn lại vào những ngày cụ thể”.2 Phân loại hoán đổi : Hoán đổi được chia là bốn loại : 7 Hoán đổi tiền tệ (Currency Swap) : Các bên thực hiện thanh toán theo tỷ giá hiện tại hoặc tỷ giá kỳ hạn cho bên còn lại trên những đồng tiền khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch ngoại tệ ở hai thời điểm hiện tại và tương lai. Hoán đổi lãi suất (Interest Rate Swap) : Hai bên giao dịch thực hiện các chuỗi thanh toán cho bên còn lại, cả hai khoản thanh toán được thực hiện trên cùng một loại đồng tiền. Một bên thanh toán theo lãi suất thả nổi, bên còn lại có thể thanh toán theo lãi suất thả nổi hay cố định.
Số tiền gốc là cơ sở thanh toán không bị hoán đổi. Hoán đổi chứng khoán (Equity Swap) : Tối thiểu một trong hai phía thực hiện việc thanh toán dựa trên giá chứng khoán, danh mục chứng khoán, hoặc chỉ số chứng khoán khác, hoặc một lãi suất nào đó, hoặc là kết quả thanh toán được cố định. Hoán đổi hàng hóa (Commodity Swap): Một trong hai, hoặc cả hai khoản thanh toán được dựa vào giá cả hàng hóa chẳng hạn như vàng, cà phê, …Khoản thanh toán còn lại thường được cố định và có thể xác định trên một vài loại tài sản có giá biến động.3 Giới thiệu về nghiệp vụ hoán đổi lãi suất : 1.1 Khái niệm : Ngày 29/12/2006, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ra quyết định số 62/2006/QĐ – NHNN ban hành Quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất, thay thế cho quyết định số 1133/2003/QĐ – NHNN đã ban hành vào ngày 30/09/2003 trước đó. Với quyết định mới này, các NHTM và khách hàng tiếp tục có thêm một cơ sở pháp lý mới và hoàn chỉnh hơn để có thể sử dụng hoán đổi lãi suất như là một công cụ bảo hiểm rủi ro lãi suất.
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro do sự biến động của lãi suất. Loại rủi ro này phát sinh trong quan hệ tín dụng theo đó ngân hàng hoặc công ty có những khoản đi vay hoặc cho vay theo lãi suất thả nổi. Nếu đi vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường tăng khiến chi phí trả lãi tăng theo. Ngược lại, nếu cho vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường xuống thấp khiến thu nhập lãi vay giảm.
Rủi ro lãi suất đặc biệt 8 quan trọng khi nào chúng ta có khoản vay hoặc đầu tư tài chính khá lớn theo lãi suất thả nổi trên thị trường. Giao dịch hoán đổi lãi suất được sử dụng như là một kỹ thuật để bảo hiểm rủi ro lãi suất. Theo quyết định 62/2006/QĐ – NHNN định nghĩa giao dịch hoán đổi lãi suất như sau : “Giao dịch hoán đổi lãi suất là việc các bên giao kết hợp đồng với nhau, theo đó mỗi bên cam kết thanh toán cho bên kia khoản tiền lãi tính theo một loại lãi suất hoán đổi đã cam kết trên cùng một khoản vốn gốc nhất định trong cùng một khoảng thời gian nhất định”. Khoản vốn gốc của một giao dịch hoán đổi lãi suất là số tiền mà các bên thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất thỏa thuận làm cơ sở để tính số lãi phải trả, số lãi được nhận và số lãi ròng hoán đổi lãi suất.
Số lãi ròng từng kỳ của một hợp đồng hoán đổi lãi suất là chênh lệch giữa số lãi được nhận và số lãi phải trả của từng kỳ thanh toán của hợp đồng đó. Kỳ hạn thanh toán số lãi ròng là khoảng thời gian trong thời hạn hợp đồng hoán đổi lãi suất có hiệu lực đã được thoả thuận giữa các bên, mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó, các bên thực hiện việc thanh toán cho nhau số lãi ròng. Các trường hợp giao dịch hoán đổi lãi suất được phép thực hiện: Hoán đổi lãi suất một đồng tiền (đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ). Hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền hay hoán đổi lãi suất tiền tệ chéo, trong đó việc trao đổi vốn gốc đầu kỳ do các bên thỏa thuận thực hiện hoặc không thực hiện, nhưng bắt buộc phải có trao đổi vốn gốc vào cuối kỳ theo tỷ giá được thỏa thuận từ ngày hợp đồng có hiệu lực.
Hoán đổi lãi suất bắt đầu trong tương lai, trong đó các bên có thể thỏa thuận về thời điểm trong tương lai mà kể từ thời điểm đó giao dịch bắt đầu có hiệu lực thanh toán.