Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA Hiện nay sức mạnh tổng hợp của đất nước đang tăng lên, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân được nâng cao và trong tình hình nhiều loại tư tưởng văn hoá tác động lẫn nhau trong phạm vi thế giới thì ý nghĩa của việc phát triển thật nhanh ngành công nghiệp văn hoá ngày càng trở nên bức thiết. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, xây dựng công nghiệp văn hoá là tiền đề hết sức quan trọng để xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đảng và Nhà nước ta coi việc xây dựng văn hoá phải đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Hai việc này phải nâng đỡ bổ sung cho nhau.
Việt Nam muốn hiện đại hoá không những phải có sự phồn vinh về kinh tế mà còn phải có sự phồn vinh về văn hoá. Cho nên công nghiệp văn hoá lấy phương thức sản xuất hiện đại hoá làm đặc trưng là cực kỳ quan trọng trong quá trình thực hiện mục tiêu này. Xây dựng công nghiệp văn hoá là tiến hành xây dựng văn hoá trong tình hình mới, sử dụng điều kiện thuận lợi của cơ chế thị trường và kỹ thuật để tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của sự nghiệp văn hoá - nghệ thuật. Việc phát triển văn hoá thích ứng với sự phát triển của xã hội càng cần phải có cơ chế công nghiệp.
Tận dụng cơ chế công nghiệp và thông qua thị trường để khai thác tài nguyên văn hoá, công nghiệp văn hoá có năng lực mở rộng tái sản xuất, giải phóng và phát triển sức sản xuất văn hoá. Phải thông qua phát triển công nghiệp văn hoá mới có thể không ngừng thoả mãn nhu cầu văn hoá ngày càng cao và đa dạng của quần chúng nhân dân. Cùng với sự tăng trưởng thu nhập của người dân, sự tăng lên của tỷ trọng chi cho vui chơi văn hoá và sự tăng lên nhiều của thời gian tiêu dùng văn hoá, tổng lượng tiêu dùng văn hoá nâng cao lên nhanh chóng thì tính chọn lựa của mọi người đối với sản phẩm văn hoá cũng ngày một nhiều lên. Thực tế ấy chỉ có thể trông chờ vào sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp văn hoá vì chỉ có công nghiệp văn hoá mới có khả năng tạo nên hệ thống sản xuất và phục vụ văn hoá nhiều chủng loại, nhiều cấp độ, nhiều loại hình, mới có 4 thể đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng đa dạng hoá, đẩy nhanh việc phổ cập văn hoá.
Phát triển công nghiệp văn hoá là nhu cầu của phát triển kinh tế quốc dân và xã hội. Mục tiêu của chúng ta là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó việc phát triển công nghiệp văn hoá sẽ thúc đẩy việc xây dựng và kiện toàn thể chế văn hoá thích ứng với thể chế kinh tế thị trường. Những việc làm đó sẽ tác động trực tiếp tới tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng đầy đủ công nghiệp văn hoá có thể tối ưu hoá kết cấu công nghiệp nhà nước, xúc tiến việc điều chỉnh kết cấu kinh tế quốc dân.
Công nghiệp văn hoá là một ngành công nghiệp có khả năng rõ rệt về mặt xúc tiến việc làm. Mặt khác, phát triển công nghiệp văn hoá sẽ thúc đẩy việc nâng cao văn hoá quốc dân và thực hiện tiến bộ xã hội, tạo ra sự phát triển nhịp nhàng giữa kinh tế và văn hoá, hình thành môi trường văn hoá tốt đẹp. Phát triển công nghiệp văn hoá cũng là con đường để văn hoá Việt Nam tham gia cạnh tranh trên thị trường văn hoá quốc tế, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước. Trình độ phát triển công nghiệp văn hoá dần dần trở thành tiêu chí quan trọng để xác định trình độ phát triển văn hoá đất nước.
Đấy là lý do mà nhiều quốc gia chú trọng thúc đẩy chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá của nước mình. Hơn nữa, trong bối cảnh cần giữ chủ quyền và tính độc lập của văn hoá, Việt Nam muốn chống lại ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai nhất là sự xâm thực của nhiều hiện tượng phản văn hoá thì phải đẩy nhanh việc xây dựng công nghiệp văn hoá, nâng cao sức cạnh tranh và thị phần quốc nội trong thị trường hàng hoá văn hoá. Hiện nay, một số cường quốc kinh tế đang lợi dụng ưu thế công nghiệp văn hoá của nước mình nhằm thúc đẩy bá quyền văn hoá trong cạnh tranh thị trường văn hoá quốc tế. Đối mặt với nguy cơ này, chúng ta phải biết sử dụng và phát huy tối đa tài nguyên văn hoá độc đáo của mình, đẩy mạnh xây dựng công nghiệp văn hoá dân tộc, từng bước chiếm lấy thị phần nhất định trong thị trường văn hoá quốc tế, góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh văn hoá của nước ta, thúc đẩy sự tiến bộ và phồn vinh của văn hoá dân tộc.
KHÁI NIỆM CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật làm gia tăng vai trò của ngành công nghiệp văn hóa đối với đời sống kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia. Không chỉ những nước có ngành công nghiệp văn hóa phát triển như Mỹ, Anh, Canada, Đan Mạch. mà ngay cả những quốc gia đang phát triển ở châu Á, châu Phi, nơi công nghiệp văn hóa còn hết sức mới mẻ, cũng đã quan tâm phát triển ngành công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên công nghiệp văn hóa là gì, cơ cấu của nó ra sao cho đến nay vẫn còn có sự tranh cãi.
Chưa bàn đến nội hàm khái niệm công nghiệp văn hóa, mà ngay cả về mặt thuật ngữ “công nghiệp văn hóa” cũng đã có những khác biệt. Bên cạnh thuật ngữ công nghiệp văn hóa (Cultural Industries), ta có thể bắt gặp một số thuật ngữ liên quan như: công nghiệp sáng tạo (Creative Industries), kinh tế sáng tạo (Creative Economy), công nghiệp giải trí (Entertainment Industries). UNESCO (tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hiệp quốc) có sự phân biệt giữa hai thuật ngữ công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo. Bộ Văn hóa, truyền thông và thể thao của Anh sử dụng thuật ngữ công nghiệp sáng tạo.
Liên hiệp quốc nhấn mạnh đến tính kinh tế của các ngành nghề này đã gọi là kinh tế sáng tạo. Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) gọi là Công nghiệp bản quyền (Copyright industries). Trong khi đó, người Mỹ gọi là Công nghiệp giải trí. Nhận định về công nghiệp văn hóa và vai trò của nó, Báo cáo Kinh tế Sáng tạo của Liên Hiệp Quốc năm 2008 đã nhấn mạnh: “Trung tâm của một kinh tế sáng tạo nằm ở các ngành kinh tế sáng tạo.
Ngày nay công nghiệp sáng tạo bao hàm sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau của các yếu tố truyền thống, công nghệ cao, và cung cấp các dịch vụ nghệ thuật bao gồm nghệ thuật dân gian, festival, âm nhạc, sách, báo, tranh trình diễn nghệ thuật đến ngành cần công nghệ cao như phim, phát thanh truyền hình, phim hoạt hình, trò chơi điện tử, các lĩnh vực cung cấp dịch vụ như dịch vụ kiến trúc, quảng cáo. Tất cả các hoạt động trên đòi hỏi sự sáng tạo cao và có thể tạo ra thu nhập thông qua các hoạt động thương mại và các quyền về sở hữu trí tuệ. Kinh tế sáng tạo có tiềm năng 6 sinh ra lợi nhuận tạo công ăn việc làm, mở ra các cơ hội mới để hội nhập với những khu vực kinh tế phát triển cao trên thế giới”. UNESCO quan niệm công nghiệp văn hóa là một thuật ngữ chỉ các ngành công nghiệp mà có sự kết nối giữa sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa các sản phẩm văn hóa (vật thể và phi vật thể), và các nội dung sáng tạo được bảo vệ bản quyền.
Còn công nghiệp sáng tạo nội hàm nghĩa rộng hơn công nghiệp văn hóa, gồm công nghiệp văn hóa cộng với tất cả các khâu của quá trình sản xuất văn hóa và nghệ thuật, kể cả những sáng tạo cá nhân1. Bộ Văn hóa, Truyền thông và Thể thao của Anh quan niệm công nghiệp sáng tạo là những ngành công nghiệp có nguồn gốc từ những sáng tạo của cá nhân, dựa trên những kỹ năng và tài năng của họ, có khả năng tạo ra việc làm và của cải thông qua việc khai thác sở hữu trí tuệ2. Tại Trung Quốc, công nghiệp văn hóa được xem như là một lĩnh vực kinh tế do nhà nước điều chỉnh, nó có mối quan hệ với chặt chẽ với kinh tế, thương mại. Các sản phẩm công nghiệp văn hóa được xem như là hàng hóa nhưng không hoàn toàn giống với các hàng hóa khác3.
Ở Việt Nam, công nghiệp văn hoá là một thuật ngữ khá mới mẻ. Phải đến những năm đầu thế kỷ XXI, công nghiệp văn hoá mới được bàn đến trong một vài công trình nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Tri Nguyên cho rằng công nghiệp văn hoá là một trong những vấn đề của văn hoá đương đại, gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ4. Đề cập cụ thể hơn đến khái niệm, vai trò của công nghiệp văn hoá là bài viết của PGS, TS.
Tô Huy Rứa: Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hoá ở nước ta (Tạp chí Cộng sản, số 1, tháng 1/2006). Ngày 13 và 14 tháng 5 năm 2010, Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức hội thảo với chủ đề Công nghiệp văn hóa: Vai trò đối với nền kinh tế và khung chính sách phù hợp phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam. Các tham luận trong Hội thảo khẳng 1 www.cn 4 Nguyễn Tri Nguyên: Văn hoá, tiếp cận lý luận và thực tiễn, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2004. 7 định vai trò của ngành công nghiệp văn hóa, chia sẻ cái nhìn sâu hơn về ngành công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam; hiện trạng và chính sách hợp lý cho sự phát triển của nó cũng như vai trò của ngành công nghiệp sáng tạo trong phát triển kinh tế của Việt Nam.
Trong Hội thảo, một trong hai diễn giả chính của phía Việt Nam là PGS,TS. Lương Hồng Quang (Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam) đã quan niệm: “công nghiệp văn hóa là các ngành công nghiệp sử dụng các sáng tạo cá nhân”.