Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đánh dấu bước chuyển mình căn bản từ nền giáo dục truyền thụ kiến thức sang định hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Trong môn Tiếng Việt cấp tiểu học, viết văn kể chuyện không còn đóng khung ở việc tái hiện các câu chuyện mẫu mà đòi hỏi học sinh phải chủ động tạo lập văn bản có yếu tố hư cấu, bộc lộ tư duy độc lập và dấu ấn thẩm mỹ cá nhân. Tuy nhiên, rào cản thực tế cho thấy đa số học sinh lớp 5 vẫn gặp nhiều lúng túng khi xây dựng cốt truyện mới, thiếu kỹ năng mở rộng tình huống và diễn đạt cảm xúc còn rập khuôn.

Nghiên cứu của học viên Hoàng Lê Na, được thực hiện năm 2025 dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Thị Kim Hoa tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết này. Đề tài hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ nhằm nâng cao năng lực viết văn kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp 5, đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình ngữ văn tiểu học hiện hành.

Nghiên cứu được triển khai khảo sát trên diện rộng tại tỉnh Thái Nguyên với sự tham gia của 69 giáo viên tiểu học thuộc 10 trường học và 240 học sinh khối 5 tại hai địa bàn đại diện: khu vực thành thị tại Trường Tiểu học Đội Cấn 2 và khu vực nông thôn miền núi tại Trường Tiểu học Vân Tùng. Luận văn đã vượt qua khâu kiểm định liêm chính học thuật với mức độ tương đồng qua phần mềm Turnitin đạt 5%, khẳng định tính mới và giá trị khoa học thực tiễn của công trình trong đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở lý luận của luận văn được xây dựng trên nền tảng thuyết học tập trải nghiệm của John Dewey và mô hình dạy học viết sáng tạo 5 bước của các nhà nghiên cứu Thái Lan tại Prapunta (gồm kích hoạt, giải thích, thực hành, phản hồi, tổng kết) vốn đạt tỷ lệ hiệu quả dạy học thực nghiệm trên 81%. Đồng thời, nghiên cứu tiếp thu sâu sắc quan điểm tâm lý học sáng tạo của Lev Vygotsky, khẳng định bản chất của sáng tạo không chỉ giới hạn ở các kiệt tác vĩ đại mà luôn hiện diện ở mọi hoạt động liên kết, biến đổi hình ảnh quen thuộc thành cái mới của trẻ thơ.

Bên cạnh đó, đề tài khai thác luận điểm của Paul Dawson xuất bản năm 2004 trong công trình Creative writing and the new humanities về vai trò bồi dưỡng tư duy phản biện qua văn học, cùng lý thuyết về tiềm năng sáng tạo của E.P. Torrance và nghiên cứu ứng dụng ngôn ngữ của Fung cùng cộng sự năm 2022. Tại Việt Nam, nghiên cứu kế thừa quan điểm của Trần Thị Hiền Lương (năm 2010 và 2019), Đỗ Xuân Thảo, Chu Thị Hà Thanh và Vũ Trọng Đông để định hình bốn khái niệm cốt lõi: sáng tạo học đường, năng lực viết sáng tạo, cấu trúc cốt truyện hư cấu và kỹ thuật nhân hóa mở rộng không gian văn bản. Các khái niệm này được đối sánh chặt chẽ trên ngữ liệu của hai bộ sách giáo khoa là Cánh Diều và Kết nối tri thức với cuộc sống.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm thu thập dữ liệu xác thực:

Nguồn dữ liệu sơ cấp được tập hợp từ 69 phiếu điều tra giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5 tại 10 trường tiểu học thuộc tỉnh Thái Nguyên, cùng 240 bài kiểm tra đánh giá năng lực thực tế của học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học Đội Cấn 2 (139 học sinh) và Trường Tiểu học Vân Tùng (101 học sinh). Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm chương trình Ngữ văn 2018 và hệ thống bài học viết sáng tạo trong hai bộ sách giáo khoa Tiếng Việt 5 hiện hành.

Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện (stratified convenience sampling). Cỡ mẫu 240 học sinh được phân bổ ở cả trường chuẩn đô thị và trường vùng khó khăn miền núi nhằm bảo đảm tính đại diện văn hóa, sự đa dạng về vốn sống và sự khác biệt về năng lực tiếp nhận tri thức.

Phương pháp thống kê toán học mô tả tỷ lệ phần trăm được lựa chọn để lượng hóa mức độ hứng thú, khả năng quan sát và xếp loại bài viết. Phương pháp phân tích văn bản chuyên sâu được áp dụng để khảo sát chi tiết từng bài viết của học sinh theo thang điểm 5 mức. Lý do lựa chọn sự kết hợp này nhằm kiểm chứng khách quan sự tương quan giữa phương pháp dạy học của giáo viên với kết quả sản sinh ngôn ngữ của học sinh, khắc phục hoàn toàn tính chủ quan trong đánh giá văn bản nghệ thuật. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ cuối năm 2024 đến tháng 10 năm 2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng do tác giả tiến hành đã ghi nhận những phát hiện cốt lõi về bức tranh dạy và học viết văn sáng tạo lớp 5:

Thứ nhất, mức độ thuần thục viết sáng tạo của học sinh còn ở mức thấp đáng báo động. Kết quả phân loại 240 bài viết cho thấy 0% học sinh đạt mức điểm A (từ 4,5 đến 5 điểm), mức B (từ 3,5 đến 4 điểm) chỉ đạt tỷ lệ khiêm tốn 7,9% tương ứng với 19 học sinh. Trong khi đó, nhóm dưới trung bình chiếm áp đảo tới 55%, bao gồm 37,5% ở mức D (90 bài đạt 1,5 đến 2 điểm) và 17,5% ở mức E (42 bài chỉ đạt 1 điểm). Đa phần bài viết chỉ dừng lại ở mức tóm tắt cốt truyện có sẵn, câu từ khô cứng và thiếu hoàn toàn các chi tiết độc đáo mang tính cá nhân.

Thứ hai, tồn tại sự đứt gãy rõ rệt giữa năng lực quan sát hiện thực và kỹ năng hư cấu câu chuyện. Dù có tới 49,2% học sinh đạt mức tốt ở khả năng quan sát cuộc sống góc nhìn cụ thể và 42,5% nhận diện tốt yếu tố thời gian, không gian nổi bật, nhưng khi chuyển hóa sang trí tưởng tượng thì tỷ lệ xếp loại không tốt lên đến 45,4% ở tiêu chí kết nối quan sát với tưởng tượng, và 38,3% không tốt ở kỹ năng sáng tạo tình huống đa dạng. Tỷ lệ học sinh biết kết nối quan sát vào tưởng tượng đạt mức tốt chỉ dừng lại ở con số 11,7%.

Thứ ba, học sinh gặp rào cản tâm lý nặng nề về sự tự tin và văn hóa chia sẻ sản phẩm. Có tới 70% học sinh bày tỏ mong muốn được tham gia thêm các tiết viết sáng tạo, nhưng chỉ có 13,3% cảm thấy thực sự thoải mái, tự tin viết ra ý tưởng riêng. Đặc biệt, có đến 55% học sinh xếp loại không hứng thú khi phải chia sẻ bài văn của mình với giáo viên hoặc bạn bè trong lớp vì tâm lý e sợ bị phê bình, chê trách.

Thứ tư, phương pháp tổ chức giảng dạy của giáo viên chưa tạo đủ không gian kích hoạt sáng tạo. Mặc dù 100% giáo viên khẳng định việc đổi mới phương pháp là rất cần thiết và rất quan trọng, song có tới 73,9% giáo viên thừa nhận chỉ thi thoảng cho học sinh thực hành chọn lọc chi tiết sáng tạo, 69,6% chỉ thi thoảng cho học sinh tự đánh giá hoặc đánh giá chéo đồng đẳng, và 73,9% chỉ thi thoảng tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế để bồi đắp vốn sống cho học sinh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ quán tính sư phạm truyền thống, nơi giáo viên thường quá chú trọng vào việc uốn nắn chữ viết, bắt bẻ lỗi ngữ pháp và trình bày thay vì cổ vũ trí tưởng tượng bay bổng của học sinh. Học sinh thiếu hụt nghiêm trọng các kỹ thuật tư duy cụ thể như lập sơ đồ ý tưởng, phát triển tính cách nhân vật hay tạo lập đối thoại, dẫn đến việc các em buộc phải dựa dẫm vào văn mẫu để đạt yêu cầu an toàn. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các cảnh báo của Paul Dawson và Trần Thị Hiền Lương về nguy cơ thui chột năng lực sáng tạo nếu lớp học thiếu vắng môi trường giáo dục dung nạp sự khác biệt.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được mô tả trực quan và sinh động thông qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch sâu sắc giữa năng lực quan sát thực tế (49,2% mức tốt) với năng lực chuyển hóa tưởng tượng (chỉ 11,7% mức tốt). Đồng thời, một bảng đối chiếu phân bổ điểm số của 240 học sinh kết hợp cùng biểu đồ tròn minh họa 55% tỷ lệ học sinh e ngại chia sẻ sản phẩm sẽ làm nổi bật tính cấp bách của việc tái thiết kế phương pháp dạy học, chứng minh rằng nếu không có giải pháp can thiệp có tính hệ thống, mục tiêu phát triển năng lực của Chương trình 2018 sẽ khó đạt được hiệu quả thực chất.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn, luận văn đề xuất bốn nhóm biện pháp sư phạm trọng tâm với các chỉ số mục tiêu và lộ trình thực hiện cụ thể:

Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh tạo lập ý tưởng thông qua kỹ thuật sơ đồ tư duy và ngân hàng tình huống giả định. Giáo viên bộ môn Tiếng Việt trực tiếp kích hoạt năng lực liên tưởng bằng cách hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi mở và khai thác chi tiết đời sống thường nhật. Mục tiêu cần đạt là nâng tỷ lệ học sinh tự tin tạo ý tưởng mới từ mức 13,3% lên trên 65%. Thời gian áp dụng hoàn thành trong học kỳ 1 năm học 2025 - 2026.

Biện pháp 2: Xây dựng quy trình hướng dẫn phát triển nhân vật đa chiều và mở rộng đối thoại tương tác. Giáo viên bộ môn và tổ chuyên môn khối 5 triển khai kỹ thuật hóa thân, giúp học sinh khắc họa ngoại hình, hành động, đời sống nội tâm cùng các thói quen ngôn ngữ đặc trưng của nhân vật. Mục tiêu đo lường là giảm tỷ lệ bài viết dưới trung bình (mức D và E) từ 55% xuống dưới mức 15%, đồng thời tăng tỷ lệ bài đạt điểm khá giỏi lên trên 45% trong học kỳ 2 năm học 2025 - 2026.

Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp phát triển cốt truyện theo mô hình bậc thang xung đột và tìm kiếm cái kết bất ngờ. Ban giám hiệu và giáo viên khối 5 hướng dẫn học sinh kỹ thuật tạo nút thắt, đẩy xung đột lên đỉnh điểm và tháo gỡ vấn đề hợp lý, giàu ý nghĩa nhân văn. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ học sinh sáng tạo tình huống đa dạng đạt mức tốt từ 29,2% lên trên 60%, thực hiện đều đặn trong 100% các tiết dạy viết văn của năm học.

Biện pháp 4: Thiết lập môi trường phản hồi tích cực và văn hóa chia sẻ lớp học không phán xét. Nhà trường phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm thay đổi cách thức chữa bài, áp dụng bảng tiêu chí đánh giá linh hoạt (rubric), tạo diễn đàn cho 100% học sinh tham gia tự đánh giá và đánh giá chéo bạn bè. Giải pháp này hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ học sinh e ngại chia sẻ từ 55% xuống dưới 18%, duy trì liên tục trong suốt tiến trình năm học 2025 - 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với bốn nhóm đối tượng chính trong hệ sinh thái giáo dục:

Nhóm giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5 tại các trường tiểu học: Tài liệu cung cấp hệ thống 4 biện pháp sư phạm chi tiết kèm giáo án thực nghiệm mẫu, giúp thầy cô áp dụng ngay vào các tiết dạy viết sáng tạo theo cả hai bộ sách Cánh Diều và Kết nối tri thức với cuộc sống, nâng cao hiệu quả giờ học một cách rõ rệt.

Nhóm cán bộ quản lý và tổ trưởng chuyên môn tiểu học: Luận văn là cơ sở khoa học tin cậy để tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề nghiên cứu bài học, đồng thời cung cấp thang đo đánh giá năng lực học sinh gồm 5 mức điểm chuẩn xác để kiểm tra chất lượng giảng dạy cấp cơ sở.

Nhóm sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học và Giáo dục Tiểu học: Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu thực tiễn, từ cách thức thiết kế bảng hỏi cho 69 giáo viên, tổ chức khảo sát 240 học sinh, đến kỹ thuật tổng thuật lý thuyết từ các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước.

Nhóm tác giả biên soạn sách giáo khoa và tài liệu bổ trợ môn Tiếng Việt: Báo cáo phân tích đối sánh chi tiết giữa hai bộ sách hiện hành trong luận văn cung cấp góc nhìn thực tiễn hữu ích để hoàn thiện các chuỗi bài tập mở, tạo ngữ liệu giàu chất gợi mở cho các lần tái bản và biên soạn sách bổ trợ tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Viết văn kể chuyện sáng tạo ở lớp 5 có bắt buộc học sinh phải tưởng tượng ra các yếu tố siêu nhiên, kỳ ảo hay không?

Không bắt buộc. Sáng tạo ở lứa tuổi tiểu học theo tinh thần Chương trình 2018 bao hàm việc thay đổi điểm nhìn trần thuật, bổ sung lời thoại mới, khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật hoặc đưa ra kết thúc bất ngờ cho một câu chuyện quen thuộc. Việc lồng ghép các yếu tố giả tưởng chỉ là một trong nhiều phương thức để kích hoạt trí tưởng tượng của các em.

Tại sao kết quả khảo sát 240 học sinh lại ghi nhận tới 55% bài viết rơi vào mức điểm dưới trung bình?

Thực tế này phản ánh sự thiếu hụt các biện pháp hướng dẫn tư duy viết theo tiến trình từ phía giáo viên. Học sinh vốn có trí tưởng tượng phong phú nhưng lại thiếu kỹ thuật hiện thực hóa ý tưởng thành câu chữ, dẫn đến việc bài viết hoặc quá sơ sài, thiếu logic hoặc sao chép rập khuôn từ các bài văn mẫu có sẵn trên mạng.

Làm thế nào để giáo viên cân bằng giữa việc sửa lỗi chính tả ngữ pháp và khuyến khích học sinh sáng tạo tự do?

Giáo viên nên áp dụng quy trình đánh giá hai giai đoạn độc lập. Giai đoạn đầu tập trung khuyến khích tính mới mẻ của ý tưởng, sự độc đáo của cốt truyện và cảm xúc chân thực của học sinh. Giai đoạn sau mới hướng dẫn các em rà soát, tự chỉnh sửa lỗi dùng từ, câu văn và quy tắc chính tả để hoàn thiện văn bản.

Nội dung viết sáng tạo trong bộ sách Cánh Diều và Kết nối tri thức với cuộc sống có điểm gì khác biệt lớn nhất?

Bộ sách Cánh Diều bố trí nội dung viết sáng tạo tập trung ở học kỳ 2 gắn với các chủ đề khát vọng và góc sáng tạo giàu tính trải nghiệm bộc phát. Ngược lại, bộ sách Kết nối tri thức triển khai ngay từ đầu năm học với quy trình bài bản từ tìm ý, lập dàn ý, viết bài đến chỉnh sửa, gắn chặt với các bài học luyện từ và câu.

Các biện pháp đề xuất trong luận văn giúp giải quyết triệt để vấn đề gì cho học sinh lớp 5?

Hệ thống biện pháp tập trung tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất: biến vốn quan sát đời sống thành chất liệu hư cấu. Biện pháp giúp học sinh tự tin bộc lộ suy nghĩ cá nhân, xóa bỏ sự e ngại khi chia sẻ bài viết và nâng cao kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ thông qua hệ thống bài tập đóng vai, mở rộng lời thoại rất tự nhiên.

Kết luận

  • Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về tiền sáng tạo, khẳng định viết văn kể chuyện sáng tạo là phương thức cốt lõi giúp hình thành năng lực ngôn ngữ và tư duy độc lập cho học sinh lớp 5.
  • Phản ánh chân thực thực trạng giáo dục tiểu học tại tỉnh Thái Nguyên thông qua khảo sát 69 giáo viên và 240 học sinh, chỉ ra sự cấp bách khi 55% học sinh xếp loại kỹ năng viết ở mức dưới trung bình.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm biện pháp sư phạm có tính đột phá, tập trung vào khâu kiến tạo ý tưởng, xây dựng nhân vật, mở rộng lời thoại và giải quyết mâu thuẫn cốt truyện.
  • Khẳng định tính chuẩn mực học thuật cao với kết quả kiểm định trùng lặp Turnitin chỉ 5%, sẵn sàng chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế dạy học năm 2025.
  • Xác định lộ trình ứng dụng toàn diện vào các nhà trường từ học kỳ 2 năm học 2025 - 2026, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh tự tin sáng tạo lên trên 65%.

Đóng góp lớn nhất của công trình là giải phóng học sinh tiểu học khỏi sự gò bó của những bài văn mẫu rập khuôn, trao quyền cho các em cất lên tiếng nói và góc nhìn độc đáo của chính mình. Kính mời các nhà trường, cán bộ quản lý giáo dục và quý thầy cô giáo cùng nghiên cứu, thử nghiệm và nhân rộng các giải pháp sư phạm này vào thực tiễn giảng dạy môn Tiếng Việt, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam.