Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN 1,1. Lịch sử vấn để nghiên cứu. Đã có rất nhiều tác giá nghiên cứu về BTHH và việc sử dụng BTHH trong dạy học hóa học. Ở trong nước có GS.
Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu lý luận về bài toán; PGS. Nguyễn Xuân Trường nghiên cứu về BT thực nghiệm định lượng; PGS. Lê Xuân Trọng, PGS. Đào Hữu Vinh, PGS.
Cao Cự Giác và nhiều tác giá khác quan tâm đến nội dung vả phương pháp giải toán,. Các tác giả ngoài nước như Apkin G. nghiên cứu về phương pháp giải toán. Đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành hóa học.
nghiên cứu về vấn để sử dụng hệ thông BTHH ở trường THPT ở các khía cạnh, mức độ khác nhau như. Đặng Thị Thanh Bình (2006), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BT hỏa học bồi dường HS khá giỏi lop 10 THPT (ban nâng cao), Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP Hà Nội. Nguyễn Thị Phượng Liên (2015), Bởi đường năng lực tự học cho HS thông qua HTBT phần phản ứng oxi hỏa — khử. hỏa học lớp 10 chương trình chuẩn, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Huế.
Đỗ Mai Luận (2006), Phát triển năng lực tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo của HS qua BTHH vô cơ lớp 11 - Ban KHTN, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP' Hà Nội 4. Đỗ Văn Minh (2007), Xây đụng HTBT hóa học vô cơ nhằm rèn luyện tư dưa" trong bôi dưỡng HS giỏi ở trường THPT;Luận văn thạc sĩ khoa học,ĐIISP Hà Nội. Trần Nhật Nam (2007), Xây dựng và lựa chọn HTBT hóa học vẻ hợp chất hữu cơ có nhóm chức lớp 11 THPT ban nâng cao nhằm phát huợ tỉnh tích cực chủ động sáng tạo của HS, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP Hà Nội. Lê Như Nguyén (2009), Rén tri thông minh cho HS thông qua việc giải BT trong dạy học hỏa học ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP Vinh 7.
Nguyễn Thị Tâm (2004), Xây dựng HTBT vẻ cách xác định CTPT hợp chắt hữu cơ trong chương trình hóa học THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP Huế, 8. Cao Thi Thang (1995), Hink thành kỹ năng giải BT hóa hoc ở trường phổ thông trung học cơ sở, Luận ân tiền sĩ, ĐHSP Hà Nội 9, Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyến chọn và xây dựng HTBT hỏa học gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THIPT, Luận văn thạc sĩ khoa học,ĐHSP Thành phố Hỗ Chí Minh. Vũ Anh Tuần (2003), Xáy dựng HITBT hóa học nhằm rèn luyện we duy trong việc bôi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường THPT, Luận án tiễn sĩ, ĐHSP Hà Nội. Đỗ Thị Ánh Tuyết (2015), Phát triển năng lực tự học cho HS thông qua sử dụng HTBT phẩm phi kim hóa học lớp 10, Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học, DH Gido due.
Đã có nhiễu tác giá trong và ngoài nước nghiên cứu vấn để tự học ở nhiễu khía. cạnh khác nhau, tuy vậy việc nghiên cứu. vấn đề phát triển năng lực tự học cúa HS thông. qua sử dụng HTBT phan hidrocacbon lớp 11 THPT chưa được quan tâm đúng mức.
Phương pháp dạy học tích cực 1. Tính tích cực “Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người không chỉ tiêu thụ những gỉ sẵn có mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cin thiết cho sự. tồn tại và phát triên của xã hội, chú động cải tạo môi trường tự nhiên, xã hội.
“Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghĩ lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Phương pháp học tập tích cực Mục đích trong việc đối mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay. đổi lỗi dạy học truyền thụ một chiểu sang dạy học theo phương pháp dạy — học tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rên luyện thỏi quen là khả năng tự học, tỉnh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình. huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niễm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập .Vậy, phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là hướng vào phát huy tinh tích cực, tự lực, tự học của người học.
Từ đỏ giúp cho HS phát triển hết mọi tiềm năng vốn cỏ. Năng lực và định hướng phát triển năng lực cho HS THPT 1. Khái niệm về năng lực Thuật ngữ “năng lực” được sử dụng ở đây tương ứng với thuật ngữ “competency” trong tiếng Anh (competency được hiểu là năng lực hành động hay còn gọi là năng lực thực hiện), theo đó năng lực là khá năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỳ năng và các thuộc tỉnh cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ÿ chỉ. để thực hiện thành công một loại công việc nào trong một sổ bói cảnh nhất định.
Năng lực gồm năng lực chung và năng lực chuyên biệt: ~ Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi. tảng cho mọi hoạt của con người trong cuộc sống và lao i. ~ Năng lực chuyên biệt (còn gọi là năng lực đặc thù) là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân một cách chủ động nhằm thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn có ý nghĩa trong môi trường hoặc tỉnh huống cụ thể, đáp ứng được yêu cầu hạn hẹp của một hoạt đông. Định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo trong những năm tới Đại hội XI xác định những nhiệm vụ chủ yếu: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đông bộ các yếu tố cơ bản của GD & ĐT theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; đổi mới căn bản công tác quản lý GD & DT, bao dam dân chủ, thông nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GD & ĐT; coi trọng quản lý chất lượng; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD & DT; đối mới chính sách, cơ chế tải chính, huy đông sự tham gia đóng góp của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GD & DT.
Định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực. Qua nghiên cứu, tham kháo kinh nghiệm các nước phát trên, đối chiếu với yêu cầu và điều kiện giáo dục trong nước những năm sấp tới, các nhà khoa học giáo. dục Việt Nam đã để xuất định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của. chương trình giáo dục THPT những năm sắp tới như sau: * Về phẩm chất: Có đú các phẩm chất: ~Yêu gia đình, quê hương, đất nước ~ Nhân ái, khoan dung.
-Trung thực, tự trọng, chỉ công vô tư ~Tự lập, tự tin, tự chủ và có tình thần vượt khó - Cé trách nhiệm với bản thân, công đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên ~ Thực hiện nghĩa vụ đạo đức tôn trọng. chấp hành kỷ luật, pháp luật * Về các năng lực: Phải có đủ các năng lực chung và phải có thêm những. năng lực chuyên biệt 1. Cơ sỡ lý luận về phát triển năng lực tự học.
Quan niệm về tự học trên thế giới Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục thế giới. Nó là vấn đề cần quan tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai, vi tự học cỏ vai trỏ quan trọng, quyết định mọi sự thành công, là điều kiện đảm bảo. cho chất lượng và hiệu quả của mọi quá trình giáo dục. John Dewey (1859 -1952) phát biểu "HS là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục".
Một loạt các phương pháp dạy học theo quan điểm, tư tưởng này đã được sử dụng: "Phương pháp tích cực", "Phương pháp hợp tác”, "Phương pháp cá thể hoá". Nói chung đây là các phương pháp mà người học không, chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà cỏn từ hoạt động tư học, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức. GV là người trọng tài, đạo diễn thiết kế tổ chức giúp HS. biết cách lâm, cách học.
Makiguchi, nhà sư phạm nôi tiếng người Nhật Bản, trong những năm 30 của thế kỷ XX đã cho rằng "Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi HS. Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn HS tự học" học như ế nào” của Rubakin, dịch giá là Nguyễn Đỉnh C( xuất bản 1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn điện của minh. Quan niệm về tự học trong giáo dục Việt Nam Vấn để tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu. Ngay từ thời phong kiến nước ta vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất.
Những nhân tải đỏ, bên cạnh yếu tố được. 14 những ông đồ tài giỏi dạy dổ, thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản thân. Chính vì vậy người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tắm gương tự học thành. Tự học là một bộ phận trong truyền thống hiểu học của nhân dân ta.
“Thực sự vẫn đề tự học được phát đông nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nên giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tắm gương vẻ tinh thần và phương pháp dạy học. Người từng nói: “Còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt”. Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hỗ Chi Minhvề phương pháp học. Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tắm gương tự học bền bi và thảnh công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Quan điểm và tư tướng tự học đổi với môn Hóa học Đặc điểm cúa bộ môn Hóa là mang tính thực nghiệm cả vẻ định tính vả định. Khái niệm hóa học luôn trừu tượng, khỏ hiểu, không quan sát bằng mắt thường. được (như nguyên tử, phân tir, electron, proton. Bộ môn Hóa học còn kết hợp các kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng quan sát, tổng hợp, phân tích, đánh giá, suy luận; kỹ năng vận dụng kiến thức vào BT; kỹ năng tính toán.
Ngoài ra hệ thông kiến thức về lý thuyết và HTBT Hoá học giữ một vị trí và vai trỏ rất quan trọng trong việc day va hoc Hoa hoe ở trường phổ thông nói chung, đặc biệt là ở trường THPT nói riêng.