Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan lịch sử về vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu trên thế giới Cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng. Nó đòi hỏi mọi người phải vận động để theo kịp sự phát triển của xã hội.
Chính vì vậy mà tinh thần tự học có vai trò vô cùng quan trọng. Trong giáo dục, vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm với ý tưởng ban đầu là chú trọng người học. Khổng Tử (479-355 TCN) ở Phương Đông dạy theo đối tượng và kích thích suy nghĩ của HS. Khổng Tử không đặt câu hỏi cho học trò trước mà ngược lại, ông đòi hỏi học trò phải chủ động đặt câu hỏi trước “Nếu ai không tự đặt câu hỏi trước, Khổng Tử sẽ không dạy cho người ấy!”.
Ông còn nói: “Biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui mà học”. Điều này rất phù hợp với nguyên tắc tạo động cơ, hứng thú học tập trong dạy học hiện đại [Theo 32]. Ở Châu Âu, tư tưởng dạy học lấy người học làm trung tâm của nhiều nhà giáo dục học đã khẳng định được tầm quan trọng của việc coi trọng người học và đồng thời các nhà giáo dục học thời kì đó cũng rất coi trọng việc tự học. Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778), đã nói: “Đừng cho trẻ em khoa học, mà phải để trẻ tự phát minh”.
Nhà giáo dục Mỹ John Dewey (1859 - 1952), chủ trương “Học bằng cách làm”. Học trò nhất thiết phải chủ động và tích cực hoạt động “học bằng cách làm” với tinh thần tự học. Makarenko (1888 - 1939) thì cho rằng việc làm đầu tiên của nhà giáo dục là:“Đem lại niềm vui cho con người bằng cách thức tỉnh ý thức của người đó, làm cho nó có thái độ đúng đắn hơn trong việc tổ chức đời sống của mình”. Disteswerg (1790 - 1886) cho rằng: “Nhà giáo dục chân chính phải phát triển sức mạnh nội tại của HS bằng cách thức tỉnh, chứ không phải tích luỹ, nhồi nhét tài liệu, giáo khoa” tác giả Alêchxanđơrôvích Rubakin (1862 - 1946) với cuốn “Tự học như thế nào” rất 7 c coi trọng vấn đề tự học, theo ông: “.
để phân biệt được những vấn đề xảy ra xung quanh ta, thì lại cần đến kiến thức chung bằng con đường tự học.Đixtécvéc (1970 – 1866), cũng cho rằng cần phải “biế n quá triǹ h da ̣y ho ̣c thành quá trình tự ho ̣c”. Những nghiên cứu ở Việt Nam Từ cuối thế kỷ XIX và gần nửa thế kỷ XX, trong hơn 80 năm nước ta bị thực dân Pháp xâm lược với sự thống trị của thực dân Pháp và chính sách ngu dân, Việt Nam có tới 95% dân số mù chữ. Ngày 3-9-1945, trong cuộc họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh) đã trình bày về những vấn đề cấp bách của đất nước, trong đó có giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Để xây dựng chính quyền mới, ổn định đời sống, giữ gìn độc lập tổ quốc thì nhất định phải thực hiện song song ba vấn đề cấp bách đó.
Hồ Chí Minh cho rằng: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, sự dốt nát là một loại giặc nội xâm, là mẹ đẻ của mọi thói hư tật xấu, phản lại văn hoá". Vì vậy, Người đề nghị mở ngay một chiến dịch diệt dốt và đích thân phát động chiến dịch “Chống nạn mù chữ”, coi đó là bước đột phá đầu tiên để nâng cao dân trí. Hồ Chí Minh nhấn mạnh "Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí", "Người chưa biết chữ có nghĩa vụ phải học tập, người biết chữ phải có nghĩa vụ dạy những người chưa biết chữ. Vợ chưa biết thì chồng bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, phụ nữ lại càng cần phải học" [23].
Như vậy, với tinh thần trên, nền giáo dục Việt Nam giai đoạn này mở ra chủ yếu dựa vào hình thức TH là chính. Từ sau những năm 1970, với tinh thần “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, nền giáo dục Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều hội nghị khoa học về đổi mới đổi mới phương pháp dạy học, các đề tài NCKH, các bài báo khoa học được công bố xoay quanh vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo giáo dục, trong đó vấn đề TH, tự nghiên cứu của học sinh rất được coi trọng. Đặc biệt vào năm 1998, Trung tâm Tự học của GS Nguyễn Cảnh Toàn đã tổ chức thành công hội nghị toàn quốc với chủ đề “Tự 8 c học, tư đào tạo – tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam” mang lại nhiều ảnh hướng lớn cho nền giáo dục Việt Nam.
[34] Ngày nay, điều kiện tự học của người học ngày một nâng cao. Hơn nữa, với sự phát triển nhanh chóng của CNTT trong các trường THCS, học sinh bắt đầu được làm quen với bộ môn Tin học ngay từ lớp 6 nên các em đã được trang bị những kiến thức về CNTT từ rất sớm. Chính vì vây, việc áp dụng CNTT trong quá trình tự học của học sinh THCS gặp rất nhiều thuận lợi. Các trang web, các phần mềm Toán học hỗ trợ cho quả tình tự học, tự nghiên cứu, tự kiểm tra, giúp học sinh tự đánh giá được trình độ và kết quả tự học của bản thân.
Quan niệm về học, tự học 1. Khái niệm học Có nhiều định nghĩa về học, theo các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Bùi Quang Tịnh, Bùi Thị Tuyết Khanh cho rằng có thể tiếp cận khái niệm học với hai quan niệm: Quan tâm đến kết quả cuối cùng đạt được là sản phẩm học và quan tâm đến quá trình học bằng cách tiếp cận về trí tuệ. Như vậy học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình. Hoạt động học tập là một trong những hoạt động của con người, do đó nó cũng tuân theo cấu trúc tổng quát của hoạt động nói chung.
HS tiến hành hoạt động học nhằm lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, được thể hiện dưới dạng những tri thức, kỹ năng. Theo Phạm Minh Hạc có thể có hai cách học, do đó có hai dạng hoạt động khác nhau: Cách thứ nhất nhằm nắm lấy các kinh nghiệm, kỹ năng mới xem như là mục đích trực tiếp; cách thứ hai nhằm tiếp thu các kinh nghiệm và kỹ năng trong khi thực hiện các mục đích khác. Thông thường việc học của HS được diễn ra theo cả hai cách, hoạt động học mà ta nghiên cứu ở đây là hoạt động có mục đích theo cách thứ nhất. Khái niệm tự học Nếu học là quá trình tìm hiểu, thu nhận kiến thức và hình thành kỹ năng của bản thân thì tự học là sự chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng cho mình.
Quá trình tự học cũng có phạm vi khá rộng: khi nghe giảng, đọc sách hay làm bài tập, cần tích cực suy nghĩ, ghi chép, sáng tạo nhằm rút ra những điều cần thiết, hữu ích cho bản thân. Tự học cũng có nhiều hình thức: có khi là tự mày mò tìm hiểu hoặc có sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy cô giáo… Dù ở hình thức nào thì sự chủ động tiếp nhận tri thức của người học vẫn là quan trọng nhất. Tự học có thể được nhìn từ góc độ nhận thức theo đó, nội dung cơ bản của khái niệm tự học: Tự học là hoạt động tự giác, độc lập của chính bản thân người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, KN, kỹ xảo. và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung để đạt tới mục tiêu học tập của cá nhân.
Tự học cũng có thể được nhìn từ góc độ cách thức, biện pháp. Quan điểm này đề cập đến các thao tác và những phẩm chất cần thiết cho hoạt động TH của mỗi người, chúng được đặt trong tổng thể các yếu tố cấu thành của hoạt động TH. Tự học có nghĩa là học lấy một mình trong sách chứ không có người dạy”. Tóm lại, TH là hoạt động mang tính độc lập, cá nhân, đòi hỏi có ý thức tự giác cao, có thái độ đúng, có tính mục đích, có mục tiêu rõ ràng, có hệ thống KN tự học.
Tự học thể hiện sự tự điều khiển, tự điều chỉnh, tự kiểm tra việc học của chính mình theo hướng sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về TH. Người cho rằng: "Tự học là học một cách tự động” và "Phải biết tự động học tập”. Theo Người: "Tự động học tập" tức là TH một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không cần ai giao nhiệm vụ, mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập, rồi tự triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian học và việc kiểm tra đánh giá quá trình học của mình.
[23] Theo Nguyễn Cảnh Toàn, khả năng TH là khả năng tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (như quan sát, so sánh, phân tích, tổng 10 c hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, say mê khoa học,.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Khả năng đó cần phải được rèn luyện ngay từ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường. Vì vậy, quá trình dạy học phải bao hàm cả dạy TH. Dạy TH là quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở hai cấp độ: quản lý và thực hiện.
Việc dạy TH đương nhiên chỉ có thể thực hiện được trong cách dạy học mà người học là chủ thể, tự họ hoạt động để đáp ứng nhu cầu của xã hội đã chuyển hoá thành nhu cầu của chính bản thân họ. [34] Theo Nguyễn Kỳ: "Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra như nhận biết vấn đề, xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề xử lý tình huống".